Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 72/2024/HSST

Ngày 16-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Đậu và ông Đỗ Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Trần Văn H, sinh năm 1986 tại tỉnh Vĩnh Phúc; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: (Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trần Văn H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” giá trị tài sản trộm cắp là 13.000.000 đồng, H phải chịu 200.000đ án phí HSST (đã nộp tháng 3/2013); Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2013/HSST ngày 31/7/2013 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trần Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản trộm cắp là 3.000.000 đồng, tổng hợp hình phạt với Bản án số 14/2013/HSST ngày 31/01/2013 H phải chấp hành hình phạt 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2013. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2014. H phải chịu 200.000đ án phí HSST (đã nộp tháng 6/2013); Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2016/HSST ngày 15/4/2016 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trần Văn H 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2015. H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2020. H phải chịu án phí HSST 200.000đ, án phí dân sự trong hình sự 200.000đ (đều đã nộp tháng 6/2016), H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Duyên s tiền 2.000.000đ. Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tại thời điểm xác minh chị D không có đơn đề nghị thi hành án yêu cầu H bồi thường số tiền 2.000.000đ; Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trần Văn H 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2020. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2024. H phải chịu án phí HSST 200.000đ (đã nộp tháng 11/2020)); tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 17/3/2024; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ ngày 16/3/2024, bị cáo H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, vàng, BKS 19B1- 006.22 đi từ nhà ra khu vực chợ B thuộc huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm mục đích tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt.

Bị cáo dừng xe ở gầm cầu vượt thuộc xã V, huyện V và lấy một khẩu trang y tế màu trắng che kín biển số xe mô tô của mình để tránh bị phát hiện. Khi đến khu vực chợ B, bị cáo nhìn thấy chị Nguyễn Thị H2, sinh ngày 21/8/1994, HKTT: Khu A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để điện thoại di động ở túi quần sau bên trái nên bị cáo điều khiển xe đi sát phía sau chị H2 mục đích chờ thời cơ thuận lợi sẽ giật lấy điện thoại của chị H2. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến đường L thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo thấy đường vắng xe qua lại nên bị cáo tăng ga điều khiển xe máy vượt lên, áp sát bên trái xe chị H2 và dùng tay phải giật lấy điện thoại từ túi quần sau của chị H2 rồi cất giấu vào túi quần bên phải của bị cáo. Sau đó bị cáo điều khiển xe bỏ chạy về xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị H2 không bị ngã, hay thương tích gì.

Đi được một đoạn,bị cáo không thấy ai đuổi theo nên bị cáo dừng xe ở ven đường và kiểm tra chiếc điện thoại đã chiếm đoạt được là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu xanh, mặt kính màn hình bị vỡ có kèm sim Viettel trong máy, điện thoại có đặt mật khẩu khoá màn hình, ốp điện thoại bằng nhựa màu đỏ, trong ốp có số tiền 1.400.000 đồng. H tháo sim và ốp điện thoại vứt ở ven đường và không nhớ vứt ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Chiếc khẩu trang H dùng che biển số xe, quá trình H bỏ chạy đã bị rơi mất, H không biết vị trí nào nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Sau đó, H mang điện thoại vừa chiếm đoạt được đến cửa hàng mua bán điện thoại “Thành Luân M” do anh Nguyễn Thành L, SN 1989 ở xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là chủ, bán cho anh L với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được điện thoại của bị cáo, do mặt kính màn hình điện thoại bị nứt vỡ nên anh L đã thay mặt kính màn hình. Anh L đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra.

Sau khi bị mất điện thoại, chị Nguyễn Thị H2 có đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố V. Ngày 17/3/2024, CQĐT đã tiến hành triệu tập H đến làm việc, H đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản của mình như đã nêu trên, đồng thời CQĐT thu giữ trên người Hùng số tiền 1.500.000đ.

Cùng ngày ngày 17/3/2024, CQĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của H. Quá trình khám xét, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng đã qua sử dụng, BKS 19B1-006.22, số máy 5C64388874, số khung C64AY338786, xe không gắn yếm xe; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 009000 do Phòng C – Công an tỉnh P cấp ngày 04/01/2021; 01 đôi giày vải loại giày thể thao màu trắng, đã qua sử dụng; 01 mũ màu trắng xám, có vành (đã qua sử dụng); 01 áo khoác da màu đen (đã qua sử dựng); 01 quần vải dài màu vàng cát (đã qua sử dụng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận:

“a. Giá 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu xanh, (mặt kính màn hình bị vỡ), đã qua sử dụng, có giá là 1.500.000 đồng.

b. Giá 01 (một) chiếc sim số của nhà mạng VIETTEL, đã qua sử dụng, có giá là: 50.000 đồng.

c. Giá 01 (một) chiếc ốp điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94 bằng nhựa, đã qua sử dụng, có giá là 20.000 đồng.

*Tổng cộng (a+b+c): 1.500.000đ + 50.000đ + 20.000đ= 1.570.000 đồng.”

Cáo trạng số 72/CT-VKSVT ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “cướp giật tài sản". Căn điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng đến 5 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, tại đường L thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu đen vàng, đã qua sử dụng, BKS 19B1-006.22 tăng ga vượt lên áp sát bên trái xe mô tô do chị Nguyễn Thị H2 điều khiển và dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại đi động OPPO A94, màu xanh, kèm ốp điện thoại đã cũ trị giá 1.520.000đ, trong ốp điện thoại có số tiền 1.400.000đ mà chị H2 đang để ở túi quần sau bên trái sau đó cất vào túi quần bên phải H đang mặc rồi điều khiển xe bỏ chạy. Giá trị tài sản H chiếm đoạt được là 2.920.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi được tài sản và trả lại cho bị hại. Ngoài ra, H có 04 tiền án chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này H phải chịu thêm tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, H phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thời điểm phạm tội bị cáo nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích vụ lợi. Bị cáo sử dụng xe máy làm phương cụ để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Đồng thời bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội này. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ cấu thành về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do tình tiết tại phạm nguy hiểm đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là: Bố bị cáo là người có công với cách mạng; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì cho mình nên không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.

Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94 màu xanh, đã qua sử dụng và 1.400.000 đồng bị trộm cắp: Đây là điện thoại và tiền của chị Nguyễn Thị H2. Ngày 30/5/2024, CQĐT đã trả lại cho chị H2 chiếc điện thoại và số tiền trên là phù hợp.

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu đen vàng, đã qua sử dụng, BKS 19B1-006.22, số máy 5C64388784, số khung C64AY338786, xe không gắn yếm xe, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 009000 do phòng C – Công an tỉnh P cấp ngày 04/01/2011: Qua tra cứu thông tin xác định chiếc xe này không phải vật chứng trong vụ án. Các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo đều thể hiện chiếc xe này bị cáo mua lại của một người không biết tên tuổi. Do vậy, xác định đây là xe của bị cáo H. Do bị cáo đã sử dụng chiếc xe mô tô này để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.

+ Đối với 01 đôi giày vải loại giày thể thao màu trắng, 01 mũ màu trắng xám có vành, 01 áo khoác dạ màu đen, 01 quần vải dài màu vàng cát đều đã qua sử dụng là trang phục H mặc khi cướp giật tài sản: Đây là vật chứng của vụ án do không có giá trị sử dụng, không sử dụng được và bị cáo không đề nghị lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

+ Đối với số tiền 100.000 đồng là số tiền bị cáo bán điện thoại cho anh L còn lại (H đã tiêu xài cá nhân hết 400.000 đồng). Do số tiền này là của anh L nên cần trả lại cho anh L. Tuy nhiên, anh L không đề nghị được lấy lại nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.

+ Đối với sin điện thoại bị cáo trộm cắp của bị hại và chiếc khẩu trang che biển số xe: Do bị cáo vứt ở đâu không nhớ vị trí nên cơ quan cảnh sát điều tra không thu thập được nên không xem xét xử lý trong cùng vụ án này là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Thành L, khi anh L mua điện thoại của H, anh L không biết điện thoại này là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, b khoản 1, Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/03/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Văn H.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[3]. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu đen vàng, đã qua sử dụng, BKS 19B1-006.22, số máy 5C64388784, số khung C64AY338786, xe không gắn yếm xe, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 009000 do phòng C – Công an tỉnh P cấp ngày 04/01/2011; số tiền 100.000 đồng

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giày vải loại giày thể thao màu trắng, 01 mũ màu trắng xám có vành, 01 áo khoác dạ màu đen, 01 quần vải dài màu vàng cát đều đã qua sử dụng.

(Số tiền trên đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.01053895.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P; Vật chứng còn lại đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản bàn giao ngày 01/07/2024 giữa Công an thành phố V với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Trong thời hạn 15 ngày, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 72/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger