|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 72/2024/HSST
Ngày 15/5/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*Các Hội thẩm nhân dân : - 1. Ông Nguyễn Tất Bẩy.
-2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà La Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên H và tên: Hoàng Văn C. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1997; tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 10/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn H1, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Vi Thị B, sinh năm 1968; Hiện đều ở và làm ruộng ở thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ: Vi Thị N, sinh năm 1997, hiện đang ở thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Con có 03 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
Bị hại: Anh Vi Văn N1, sinh năm 1981. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Hoàng Văn T, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Người làm chứng:
- Vi Thị N, sinh năm 1997. Có mặt.
- Hùng Văn T1, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 05/02/2024, anh Vi Văn N1, sinh năm 1981, trú quán thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô đến nhà anh Hùng Văn T1, sinh năm 1991, trú ở cùng thôn ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, do say rượu nên anh N1 nghĩ rằng Hoàng Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy xe mô tô của mình nên anh N1 đến nhà C để đòi xe mô tô. Khi đến nhà C thì cổng đã đóng còn C và vợ là chị Vi Thị N, sinh năm 1997 đang ngồi ở hiên nhà, anh N1 đứng ở ngoài cổng đòi Cành trả lại xe mô tô nhưng C nói không được lấy xe mô tô của anh N1 và hiện trong nhà C cũng không có xe mô tô của anh N1, C bảo anh N1 đi về. Tuy nhiên anh N1 vẫn cho rằng C lấy xe mô tô của anh N1 và anh N1 dùng chân đạp vào cổng nhà C rồi tự mở cổng đi vào sân chửi bới gia đình C. Cành tức giận vì bị anh N1 chửi, lúc này C nhìn thấy ở hiên nhà 01 con dao, loại dao phay, tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm đang để trong rổ đựng quả táo cầm ở tay phải ra đứng đối diện với anh N1 và dùng dao chém một nhát từ trên xuống dưới vào vùng mặt bên phải của anh N1 làm anh N1 bị thương chảy máu ở vùng má phải, lúc này chị N ra can ngăn. Sau đó C cùng người dân ở đó đưa anh N1 đến Trung tâm y tế huyện L cấp cứu, sau đó anh N1 được chuyển đến Bệnh viện R điều trị, đến ngày 09/02/2024 anh N1 được ra viện.
Ngày 06/02/2024, anh Vi Văn N1 có đơn trình báo Công an xã T, huyện L. Sau khi nhận được đơn trình báo, Công an xã T đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc.
Cùng ngày 06/02/2024, Hoàng Văn C đã đến Công an xã T đầu thú về hành vi dùng dao chém anh Vi Văn N1 và giao nộp 01 con dao, loại dao phay, cán gỗ, tổng chiều dài 35cm, lưỡi dao kim loại màu trắng dài 21,5cm, bản dao rộng 7,5cm, Công an xã T đã tiến hành niêm phong theo quy định.
Cùng ngày, Công an xã T, huyện L chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án, thu giữ chất màu nâu đỏ nghi máu niêm phong trong phong bì ký hiệu “M3”.
Ngày 06/02/2024 cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Trung tâm y tế huyện L về thương tích ban đầu của anh Vi Văn N1, xác định thương tích ban đầu của anh Vi Văn N1 như sau: Vết thương từ gò má phải xuống qua mép lật sâu vào vùng góc hàm, cắt qua tuyến mang tai lật vạt da rộng kích thước (08x08)cm, bờ sắc gọn.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 25/4/2024 của T2 tâm y tế huyện L xác định anh Vi Văn N1 vào viện hồi 00 giờ 51 phút ngày 06 tháng 02 năm 2024, ra viện hồi 08 giờ ngày 06/02/2024. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Vết thương từ gò má phải xuống qua mép lật sâu vào vùng góc hàm cắt qua tuyến mang tại lật vạt rộng kích thước 08x08cm bờ sắc gọn.
Tại giấy chứng nhận phẫu thuật số 007534/24 và Giấy ra viện ngày 09/2/2024 của Bệnh viện R xác định: anh Vi Văn N1 vào viện lúc 22 giờ 37 phút ngày 06/2/2024, ra viện lúc 15 giờ 00 phút ngày 09/2/2024. Chẩn đoán: vết thương hở của má và vùng thái dương- xương hàm dưới. Tình trạng ra viện: Bệnh nhân toàn trạng ổn định.
Ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm (%) thương tích, cơ chế hình thành thương tích của anh Vi Văn N1. Tại Kết luận giám định số 2099 ngày 07/02/2024 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết thương rách lóc da má phải, kích thước lớn + Tổn thương tuyến nước bọt mang tai phải: 12%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vi Văn N1 tại thời điểm giảm định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Cơ chế gây thương tích: Thương tích do vật sắc gây nên”.
Ngày 26/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu chất màu nâu đỏ nghi máu thu tại hiện trường và trên lưỡi dao đã thu giữ được niêm phong có bám dính máu hay không. Tại Kết luận giám định số 536/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trên mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M3” gửi giám định có máu người, nhóm máu A. Trên 01 con dao được niêm phong gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết máu.
Ngày 11/04/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung để xác định con dao bằng kim loại, loại dao phay, có một lưỡi sắc có tổng chiều dài 35cm, chiều rộng nhất 7,5cm đã thu giữ có gây nên được thương tích của anh Vi Văn N1 hay không, chiều hướng, cơ chế gây thương tích. Tại Kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 2222B/KLVGTT-TTPY, ngày 17/4/2024 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: con dao có đặc điểm nêu trên là vật gây ra được thương tích cho anh Vi Văn N1, cụ thể con dao gửi giám định gây được vết thương từ gò má phải xuống qua mép lật sâu vào vuông góc, hàm, cắt qua tuyến mang tai lật vạt da rộng kích thước (8 x 8)cm, bờ sắc gọn cho anh Vi Văn N1. Chiều hướng lực tác động gây thương tích: Chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, lực tác động không mạnh.
Ngày 12/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Hoàng Văn C thực nghiệm hành vi dùng dao chém gây thương tích cho anh Vi Văn N1.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận đúng hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản cáo trạng số: 72/ CT - VKS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 18 tháng đến 22 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách từ 36 đến 44 tháng tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Về Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho anh Vi Văn N1 số tiền 65.000.000đ. Anh N1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đồng thời anh N1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
* Về xử ý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01con dao, loại dao phay bằng kim loại, có tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm.
* Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn C là dân tộc thiểu số, sông sở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặch biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn C khai nhận đúng hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo xin lỗi anh N1.
Bị hại là anh Vi Văn N1 xác định đã được bị cáo bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự nên anh không có yêu cầu gì thêm. Đồng thời anh N1 xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ, có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng, phù hợp với giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định Khoảng 23 giờ ngày 05/02/2024, tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do bị anh Vi Văn N1 đến nhà gây sự, chửi bới nên Hoàng Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã T, huyện L đã bực tức lấy 01 con dao, loại dao phay, tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm (là hung khí nguy hiểm) chém một nhát trúng vào vùng má phải của anh N1. Hậu quả gây thương tích cho anh N1 12% sức khỏe.
Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Văn C phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố đối với bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phơng, xâm hại tới sức khoẻ của ngời khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Nên phải cần một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; khi bị phát hiện đã ra đầu thú, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội nguyên nhân do bị hại cũng có một phần lỗi, khi bị phát hiện đã ra đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN - TAND TC ngày 07/9/2022 nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên về mức hình phạt Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn C đã thỏa thuận bồi thường cho anh Vi Văn N1 số tiền 65.000.000đ. Anh N1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị can phải bồi thường gì thêm, đồng thời anh N1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
01 con dao, loại dao phay bằng kim loại có tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm là vật ít giá trị và phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn C là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặch biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 02 ( hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao phay bằng kim loại có tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 72/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ ngày 05/02/2024, tại thôn Bắc Hoa, xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, do bị anh Vi Văn Năm đến nhà gây sự, chửi bới nên Hoàng Văn Cành, sinh năm 1997, trú tại thôn Bắc Hoa, xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn đã bực tức lấy 01 con dao, loại dao phay, tổng chiều dài 35cm, chiều rộng 7,5cm (là hung khí nguy hiểm) chém một nhát trúng vào vùng má phải của anh Năm. Hậu quả gây thương tích cho anh Năm 12% sức khỏe
