TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 9 - 2024
V/v “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Đông
2. Bà Ngụy Mộng Cầm
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Bé Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phùng Kim Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, về tranh chấp “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số E, đường T, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 20/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Võ Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T và ông Đặng Văn C có thời gian tìm hiểu quen biết nhau, không có tổ chức lễ cưới và sống chung với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 2005 đến năm 2006, không có đăng ký kết hôn. Từ năm 2006 đến nay không sống chung. Nguyên nhân không sống chung là không còn tình cảm vợ chồng, mỗi người có cuộc sống riêng. Nay bà T nhận thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung được nữa, bà T đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông Đặng Văn C;
Về con chung: Bà T và ông C trong thời gian sống chung, có 01 con chung tên Đặng Ngọc L, sinh ngày 18/02/2006, Ngọc L đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Ông, bà không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Ông, bà không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Tại Tờ tường trình ngày 21/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đặng Văn C trình bày: Ông C đã nhận được các tài liệu, chứng cứ của bà T và không có ý kiến gì về tài liệu, chứng cứ bà Tâm giao n. Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà Võ Thị Ngọc T có thời gian tìm hiểu quen biết nhau chưa được 01 tháng, không có tổ chức lễ cưới và sống chung với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2005 đến đầu năm 2006, không có đăng ký kết hôn. Từ đầu năm 2006 đến nay không sống chung. Nguyên nhân do ông C và bà T bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, thường hay cự cãi, không ai quan tâm lẫn nhau và mỗi người có cuộc sống riêng. Hiện nay mỗi người có gia đình và có cuộc sống riêng; ông C đồng ý yêu cầu của bà T về việc bà T yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông C và bà Võ Thị Ngọc T;
Về con chung: Ông C và bà T trong thời gian sống chung, có 01 con chung tên Đặng Ngọc L, sinh ngày 18/02/2006. Sau khi bà T sinh con xong được gần 1 tháng thì ông C cùng con Đặng Ngọc L về sống ở Vĩnh Long đến nay, con do ông C nuôi dưỡng từ tháng 3/2006 đến nay, bà T không thăm nom con, không cấp dưỡng nuôi con. Nay, con Ngọc L đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Ông C và bà T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Ông C và bà T không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T đề nghị xét xử vắng mặt do bận công việc đi làm ăn xa và bảo lưu các ý kiến đã trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông C có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc làm thuê không xin vắng được, ông xin bảo lưu ý kiến đã trình bày, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của bà T.
Đương sự không xuất trình chứng cứ nào mới.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật từ khi thụ lý đơn kiện cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện tốt.
Đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTV-QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về nội dung: Bà T và ông C không đăng ký kết hôn, đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Ngọc T và ông Đặng Văn C; về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung tên Đặng Ngọc L, sinh ngày 18/02/2006, Ngọc L đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc T yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Đặng Văn C. Vì vậy, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 51, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị đơn ông Đặng Văn C có địa chỉ cư trú trên địa bàn thành phố V nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua quá trình giải quyết vụ án, bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ; ông Đặng Văn C trình bày có cùng ý kiến với bà T về yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông C.
Bà T và ông C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà T và ông C không có tổ chức đám cưới và tự nguyện sống chung như vợ chồng, có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng ông, bà không đăng ký kết hôn, đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian sống chung, bà T và ông C xảy ra mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm không còn. Ông, bà không còn sống chung từ năm 2006 đến nay, quan hệ hôn nhân không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng nên pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng. Xét thấy, bà T yêu cầu và ông C đồng ý là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình nên ghi nhận yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông C;
[2.2] Về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung tên Đặng Ngọc L, sinh ngày 18/02/2006, Ngọc L đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết;
[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết;
[2.4] Về nợ chung: Không có.
[3] Về án phí: Bà Võ Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định phát luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; 227, 228; 235; 266; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV-QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc T.
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Ngọc T và ông Đặng Văn C;
- Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Ngọc L, sinh ngày 18/02/2006, Ngọc L đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân, không đặt ra giải quyết;
- Về tài sản chung: Bà T và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết;
- Về nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết;
- Về án phí: Bà Võ Thị Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số Nº 0007108 ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Kim Yến |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T-C
