|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 72/2024/DS-ST Ngày: 18/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Hay
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thịnh và bà Nguyễn Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 139/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Lầu H, B - B N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1979 – Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh K kiêm Trưởng phòng giao dịch C.
(Văn bản uỷ quyền số 3525/2023/QĐ – PL ngày 15 tháng 12 năm 2023)
Ông Á vắng mặt tại phiên toà. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Cao Bá C, sinh năm: 1964 và bà Phan Thị Kim L, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Ông C có mặt tại phiên toà. Bà L vắng mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Bá C1, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Á trình bày:
- Ngày 27/6/2023, ông Cao Bá C, bà Phan Thị Kim L ký kết hợp đồng tín dụng số [...] vay của Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây là Ngân hàng) số tiền 300.000.000 đồng; thời hạn vay đến ngày 29/6/2028; các bên có thoả thuận lãi suất 03 tháng đầu là 12,5%/năm của năm đầu tiên, bắt đầu từ tháng 13 trở đi theo lãi suất của S1 + biên độ 4.0%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn và lãi suất chậm trả bằng 10%/năm
Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 281, tờ bản đồ số 42 tại tổ dân phố H, phường B, thành phố C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DĐ793877 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 11/01/2022 cho ông Cao Bá C1.
- Ngày 29/6/2023 ông Cao Bá C, bà Phan Thị Kim L ký kết hợp đồng tín dụng số [...] vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 4.200.000.000 đồng; thời hạn vay đến ngày 29/12/2023; các bên có thoả thuận lãi suất 03 tháng đầu là 8,5%/năm, sau đó thả nổi theo lãi suất của Ngân hàng, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn và lãi suất chậm trả bằng 10%/năm.
Tài sản thế chấp là thửa đất số 292 tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại tổ dân phố L, phường C, thành phố C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DĐ793877 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 11/01/2022 cho ông Cao Bá C1 và thửa đất số 281, tờ bản đồ số 42 tại tổ dân phố H, phường B, C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX218235 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 30/9/2020 cho ông Cao Bá C1.
Tất cả các tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Ngày 29/12/2023 là ngày đến hạn trả gốc của ông C, bà L theo giấy nhận nợ, nhưng bị đơn cũng không trả. Sau ngày 29/12/2023, S1 đã chuyển toàn bộ số nợ lãi và gốc của ông C, bà L lên quá hạn. Sau đó, mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp để yêu cầu bị đơn trả nợ. Tuy nhiên, bị đơn vẫn không thanh toán khoản nợ vay, vi phạm các điều khoản quy định tại hợp đồng đã ký.
Sau khi ngân Ngân hàng khởi kiện tại Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền gốc và lãi tại thời điểm khởi kiện là 4.560.541.924 đồng thì ngày 05/4/2024, bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.156.142.277 đồng, Ngân hàng đã giải chấp đối với số tài sản là quyền sử dụng đất là thửa đất số 292 tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại tổ dân phố L, C, C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DĐ793877 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 11/01/2022 cho ông Cao Bá C1. Còn lại số tiền gốc và lãi tính đến ngày 26/6/2024 là 720.511.076 đồng thì bị đơn không tiếp tục thanh toán.
Ngày 28/6/2024, Ngân hàng có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó Ngân hàng rút yêu cầu số tiền 4.156.142.277 đồng, Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi là 720.511.076 đồng.
2
Tại Bản tự khai ngày 27/8/2024, Ngân hàng yêu cầu ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/6/2024 là 731.538.908 đồng, trong đó nợ gốc 333.857.723 đồng, lãi trong hạn 293.351.603 đồng, lãi phạt quá hạn 75.671.611 đồng và phạt chậm trả lãi 28.657.971 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng tín dụng số 2202327142337 ngày 27/6/2023 cho đến khi trả hết nợ.
Trong trường hợp ông C, bà L không trả nợ, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/6/2023;
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thanh toán số tiền còn nợ thì ông C, bà L có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
* Tại phiên toà, bị đơn ông Cao Bá C trình bày: Ông thống nhất với số tiền còn nợ Ngân hàng, tuy nhiên, hiện tại chưa bán được tài sản, khi nào bán được tài sản sẽ thanh toán đủ cho Ngân hàng.
* Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị Kim L không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Bá C1 trình bày: Đối với khoảng nợ còn lại mà Ngân hàng yêu cầu hai bên đã thống nhất xong nhưng hiện nay vẫn còn đơn khởi kiện, kính mong quý Toà xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện chưa đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà ông Cao Bá C, bà Phan Thị Kim Lệ T thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn bà Phan Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Bá C1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt; đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Á có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người nêu trên.
3
[1.3] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 4.156.142.277 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng tín dụng:
Tại Bản tự khai ngày 27/8/2024, Ngân hàng yêu cầu ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L phải trả số tiền nợ gốc và lãi là 731.538.908 đồng, trong đó nợ gốc 33.857.723 đồng, lãi trong hạn 293.351.603 đồng, lãi phạt quá hạn 75.671.611 đồng và phạt chậm trả lãi 28.657.971 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng tín dụng số 2202327142337 ngày 27/6/2023 cho đến khi trả hết nợ. Đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/6/2023 và số [...] ngày 29/6/2023 được ký kết giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đến hạn theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông C, bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án. Sau khi Ngân hàng khởi kiện thì bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.156.142.277 đồng, còn lại tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/6/2024 là 720.511.076 đồng bị đơn không tiếp tục thanh toán. Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ và quy định của pháp luật nhận thấy, việc khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi suất nói trên là phù hợp với sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng; phù hợp với quy định tại Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 27/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/6/2023, Giấy nhận nợ số LD23180000 74 ngày 29/6/2023 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
[2.2] Về tài sản thế chấp:
Hợp đồng thế chấp tài sản được ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Cao Bá C1 đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trường hợp ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L không thanh toán khoản nợ còn lại theo yêu cầu nói trên của Ngân hàng thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 281, tờ bản đồ số 42 tại tổ dân phố H, phường B, C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX218235 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 30/9/2020 cho ông Cao Bá C1 theo hợp đồng thế chấp số 91/HĐTC23 ngày 28/6/2023, công chứng tại Văn phòng C2, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ tiền để tất
4
toán khoản vay thì ông C, bà L còn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
- Trường hợp ông C, bà L trả xong số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có nghĩa vụ trả lại cho ông C1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX218235 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 30/9/2020 cho ông Cao Bá C1. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan đăng ký đất đai để xóa đăng ký thế chấp theo quy định.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng:
[3.1]. Về án phí: Ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện 731.538.908 đồng của nguyên đơn được chấp nhận là: 20.000.000 đồng + 4% x (731.538.908 đồng – 400.000.000 đồng) = 33.256.556 đồng. Tuy nhiên, ông Cao Bá C là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp đối với phần án phí của ông. Như vậy, bà Phan Thị Kim L phải chịu 16.628.278 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này, do đó bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 227, 228, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S về việc buộc bị đơn ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L phải trả số tiền 4.156.142.277 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S:
- - Buộc bị đơn ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tiền nợ gốc và lãi còn lại theo 02 Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/6/2023 và số [...] ngày 29/6/2023 tính đến ngày 26/6/2024 là 731.538.908 đồng; trong đó nợ gốc 333.857.723 đồng, lãi trong hạn 293.351.603 đồng, lãi phạt quá hạn 75.671.611 đồng, phạt chậm trả lãi 28.657.971
5
đồng và lãi suất phát sinh tính từ ngày 27/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợptín dụng số [...] ngày 27/6/2023, Giấy nhận nợ số LD23180000 74 ngày 29/6/2023 cho đến khi trả hết nợ.
- - Trong trường hợp ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L không thi hành khoản tiền phải trả thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Cam Ranh xử lý tài sản thế chấp theo 91/HĐTC23 ngày 28/6/2023 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với ông Cao Bá C1 là quyền sử dụng thửa đất số 281, tờ bản đồ số 42 tại tổ dân phố H, phường B, C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX218235 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 30/9/2020 cho ông Cao Bá C1. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ tiền để tất toán khoản vay thì C và bà L còn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng S cho đến khi tất toán khoản vay.
- - Trường hợp ông C, bà L trả xong số nợ trên thì Ngân hàng S có nghĩa vụ trả lại cho ông C1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX218235 do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hoà cấp ngày 30/9/2020 cho ông Cao Bá C1. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan đăng ký đất đai để xóa đăng ký thế chấp.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
3.1. Về án phí: Bà Phan Thị Kim L phải chịu 16.628.278 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Cao Bá C được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S 56.281.000 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004755 ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
3.2. Về chi phí tố tụng: Ông Cao Bá C và bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền chi phí tố tụng là 4.000.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo:
- - Bị đơn ông Cao Bá C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Nguyên đơn; bị đơn bà Phan Thị Kim L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Bá C1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Quy định:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
6
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Quốc Hay |
7
Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 72/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
