TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-PT Ngày: 13 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và ông Nguyễn Hải Vinh;
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 13/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/TLPT-HS ngày 06/03/2024 do có kháng cáo của các bị cáo Tiêu Văn H, Đỗ Thành C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Tiêu Văn H, sinh năm 1995; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện (nay là thị xã) V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tiêu Văn D, sinh năm 1964 và bà Lê Thị B, sinh năm 1966; Vợ, con: chưa có;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Đỗ Thành C, sinh năm 1993; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện (nay là thị xã) V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Viết L, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có 03 bị cáo và 14 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Tiêu Văn H, sinh năm 1995, trú tại thôn D, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang thuê lại quán K1 được xây dựng trên 02 thửa đất số: 14-L04 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 152676) và thửa đất số 15-L04 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CD 152677) do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 12/5/2016 tại Khu dân cư thương mại xã B, huyện V (nay là tổ dân phố T, thị trấn B, thị xã V) của chị Vũ Thị Phương L1, sinh năm 1992, trú tại số nhà A, đường P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; thời hạn thuê là 03 năm kể từ ngày 04/4/2022 đến ngày 04/4/2025. Sau khi thuê, Hiệp đổi tên quán K2 “Luxury” do H đứng tên đăng ký kinh doanh. Trong quá trình hoạt động đến ngày 23/02/2023, quán K3 bị Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện V thu hồi giấy phép kinh doanh do không đủ điều kiện liên quan đến công tác phòng cháy, chữa cháy. H có thuê Hoàng Xuân Lâm P, sinh năm 2005, trú tại thôn S, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang trông quán.
Hồi 23 giờ 45 phút ngày 05/7/2023, Đội Quản lý hành chính về trật tự xã hội- Công an huyện V phối hợp cùng Công an thị trấn Bích Động tiến hành kiểm tra quán K3 trên do Tiêu Văn H làm chủ, phát hiện tại Phòng số 5, tầng C và Phòng số 10, tầng 4 của quán K3 các đối tượng đang thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, cụ thể như sau:
Hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Phòng 5, tầng 3 như sau:
Tại Phòng số 5 tầng 3 của quán K3 có 18 đối tượng (09 nam, 09 nữ), gồm: Đỗ Thành C, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Dương Văn T2, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện V; Chu Đức H1, sinh năm 2002, trú tại thôn Đ, xã T, huyện V; Dương Văn S, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã T, huyện V; Diêm Công P1, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã H, huyện V; Nguyễn Văn T3, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã T, huyện V; Nguyễn Ngọc V, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện V; Nguyễn Xuân S1, sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã H, huyện V; Lương Văn Q, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố T, phường L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Phạm Thị T4, sinh ngày 13/11/2007, trú tại bản Nậm Ngùa, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Bùi Thị Anh T5, sinh ngày 12/9/2009, trú tại thôn H, xã T, huyện V; R H' Truyn, sinh ngày 16/6/2005, trú tại buôn C, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nguyễn Thị T6, sinh ngày 31/01/2008, trú tại thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Lò Thị S2, sinh năm 2004, trú tại bản T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Quàng Thanh T7, sinh năm 2004, trú tại tổ C, thị trấn Đ, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Trịnh Thị Kim C1, sinh năm 2002, trú tại 69/6, Dương Văn N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Bùi Thị D1, sinh năm 2004, trú tại xóm M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Phạm Tiểu Q1, sinh ngày 10/6/2006, trú tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ tại phòng số 05 tầng 3 gồm: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có bám dính chất cục bột màu trắng (nghi ma túy Ketamine), trên đĩa có 01 thẻ nhựa trên thẻ có ghi chữ “LUIS VUITTON”, 01 ống hút màu nâu được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KT5”; cho chất cục bột màu trắng (nghi ma túy Ketamine) trên đĩa sứ hình tròn màu trắng vào 01 túi nilon màu trắng và niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT5a”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu xanh, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT5b”; 01 bình gas có gắn khò, màu sơn xanh đỏ.
Ngoài ra, thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu S3 S10 Lite, số I: 353293110056136 và số tiền 900.000 đồng của Dương Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, số Imel 354878093704691 và số tiền 66.000 đồng của Chu Đức H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S màu đen, số Imel 352599507415409 và số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Văn T3; số tiền 420.000 đồng của Nguyễn Ngọc V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A 55 màu xanh, số Imel 867143064618150 của Rcom H' Truyn; số tiền 6.150.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số Imel 354786256265279 của Đỗ Thành C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số Imel 356712115394876 của Quàng T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng, số Imel 3572680929104 và số tiền 717.000 đồng của Nguyễn Xuân S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng, số Imel 357239095719210 và số tiền 2.400.000 đồng của Bùi Thị D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số Imel 353896102347113 của Phạm Tiểu Q1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu đen, số Imel 353902103782306 của Dương Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imel 359128076936711 và số tiền 165.000 đồng của Lương Văn Q.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường tại quán K3, thu giữ 01 đầu thu camera và tại Phòng số 5 tầng 3: 06 loa treo JBL, 03 loa to ngang, 01 đèn quay, 08 đèn nháy, 01 máy chiếu đèn, 01 âm ly.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho các đối tượng test nhanh ma tuý, kết quả Đỗ Thành C, Dương Văn T2, Chu Đức H1, Nguyễn Xuân S1, Lương Văn Q, Phạm Thị T4, Rcom H' Truyn, Nguyễn Thị Thu T8, Lò Thị S2, Quàng Thanh T7, Trịnh Thị Kim C1 và Phạm Tiểu Q1 dương tính với chất ma túy KET. Các đối tượng Dương Văn S, Diêm Công P1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Ngọc V, Bùi Thị Anh T5 và Bùi Thị D1 đều âm tính với chất ma túy.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh B giám định chất ma túy thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT5”, “KT5a”, “KT5b” là loại ma túy gì, khối lượng bao nhiêu. Tại Kết luận giám định số 1283/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K4 - Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (một) bìa cát tông ký hiệu “KT5” được niêm phong, gửi giám định:
+ Chất cục bột màu trắng bám dính trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
+ Chất cục bột màu trắng bám dính trên 01 (một) thẻ nhựa có nhiều chữ là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
+ Chất cục bột màu trắng bám dính trong 01 (một) ống hút màu nâu là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KT5a” được niêm phong, gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,651 gam.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KT5b” được niêm phong, gửi giám định:
+ Chất cục bột màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại MDMA, không xác định được khối lượng mẫu.
+ Chất cục bột màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, loại Katamine, không xác định được khối lượng mẫu.
+ Trên 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (hai nghìn đồng) không tìm thấy chất ma túy bám dính.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: khoảng 19 giờ ngày 05/7/2023, Đỗ Thành C tổ chức sinh nhật tại quán bia “Huynh đệ quán” ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V do Tiêu Văn H làm chủ. C có mời một số bạn bè đến quán ăn uống, quá trình ăn uống đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H đi đến bàn của C mời bia, H có nói với C “Nay sinh nhật anh, nếu đi chơi thì lên em cho một phòng”, (ý H là cho C sử dụng một phòng hát của quán L2 và không lấy tiền phòng), C bảo “Ok”. Quá trình ăn uống tại quán xong, khoảng 20 giờ cùng ngày, có đối tượng tên L3, khoảng 25 tuổi, nhà khu vực xã T, huyện V sang bàn của C mời bia vì C và L3 có quen biết nhau từ trước (C không biết họ, tên đệm, năm sinh và địa chỉ cụ thể của L3). Tại đây, C bảo L3 “Nay sinh nhật anh, chú biết ở đâu bán K mua cho anh 1.000.000 đồng để lên chơi cho vui”. L3 nói “Anh lên trước đi, em mang lên sau”. Sau đó, C bảo Chu Đức H1, Dương Văn T2, Dương Văn S, Nguyễn Xuân S1 và Diêm Công P1 đến quán K3 thì mọi người đồng ý. Cả nhóm cùng nhau đến quán K3 gặp Hoàng Xuân Lâm P, sinh năm 2005 ở thôn S, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người Hiệp thuê trông quán Karaoke. P bảo nhóm của C lên Phòng 5 tầng 3 của quán. Cả nhóm cùng nhau lên phòng 5, trong phòng đã có sẵn các thiết bị âm thanh, ánh sáng. Khoảng 05 phút sau, L3 đến và đi đến cửa P, tầng 3 gặp C và đưa cho C 01 (một) túi nilon một đầu có rãnh khoá bằng nhựa bên trong đựng chất bột màu trắng là ma tuý Ketamine mà C đã nhờ L3 mua lúc ở quán bia (C chưa trả tiền cho L3). Sau đó, L3 đi xuống, C cầm túi nilon chứa chất ma tuý đi vào Phòng 5, tầng 3 đưa cho T2 và bảo T2 xào. Lúc này, T2 lấy đĩa sứ, thẻ nhựa cứng, tẩu và khò có sẵn trong phòng để xào ma tuý ke. C đi vào nhà vệ sinh rồi quay ra nghe nhạc và nhảy. Lúc này, H1 dùng thẻ nhựa kẻ 02 đường ma tuý (khi H1 kẻ ma tuý thì T2 bật đèn flash điện thoại soi cho H1 xào kẻ đường ke); sau khi kẻ ma túy xong, H1 đã tự sử dụng 01 đường ma tuý, còn 01 đường ma túy trên đĩa thì H1 bê đĩa ma tuý và đưa "tẩu" cho C để sử dụng, C cầm tẩu sử dụng ma tuý (quá trình C sử dụng ma tuý thì T2 dùng đèn flash điện thoại soi cho C sử dụng ma tuý). Trong phòng lúc này còn có Q1 và L1 (làm ở Hà Nội) được C gọi về dự sinh nhật C; T4, T9, S2, T8, T5, N1 được Nguyễn Ngọc V gọi đến để phục vụ hát; D1 (là bạn gái của H1) được H1 gọi đến để hát cùng; C1 được T3 gọi đến để hát, dự sinh nhật. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H cùng Hoàng Thị T10, sinh năm 2001, trú tại thôn D, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái (là bạn gái H) cùng 03 nhân viên nữ và 01 nam thanh niên (đều là bạn H, không xác định được họ tên, tuổi và địa chỉ ở đâu) đến phòng 5 tầng 3. Tại đây, có Phạm Thị T4, Rcom H2, Nguyễn Thị T6, Lò Thị S2, Quàng Thanh T7, Nguyễn Xuân S1, Trịnh Thị Kim C1, Phạm Tiểu Q1, Lương Văn Q, Phan Thị L4 sử dụng ma tuý của Đỗ Thành C. Tiêu Văn H nhìn thấy nhiều nam, nữ thanh niên sử dụng ma tuý trong phòng nhưng không có lời nói, hành động gì ngăn cản mà để các đối tượng sử dụng ma túy. H ở trong phòng nghe nhạc, uống bia cùng mọi người đến khoảng 21 giờ 30 thì H cùng T7 và bạn về trước, còn lại mọi người vẫn ở trong phòng hát. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính, thu giữ, niêm phong các dụng cụ sử dụng ma tuý (đĩa sứ, ống hút, túi nilon, thẻ nhựa cứng, bình gas mini có gắn đầu khò...) và số ma tuý còn thừa trên đĩa.
Ngày 06/7/2023, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Đỗ Thành C, Dương Văn T2, Chu Đức H1 đã xin đầu thú và khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 25/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tiêu Văn H về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời ra lệnh khám xét nơi ở của H. Kết quả khám xét không thu giữ gì, xác minh xác định H không có mặt tại gia đình và địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Tiêu Văn H. Ngày 01/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang đã phối hợp cùng Công an thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh bắt truy nã đối với Tiêu Văn H. Quá trình bắt truy nã, thu giữ của H gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imel 359265384941734, 01 căn cước công dân mang tên Tiêu Văn H.
Ngày 13/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu Phòng K4- Công an tỉnh B giám định kỹ thuật số và điện tử (trích xuất khôi phục tin nhắn sms, tin nhắn zalo, tin nhắn messeger) của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số I 354786256265279 được niêm phong thu giữ của Đỗ Thành C. Tại bản kết luận giám định số 1364/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K4- Công an tỉnh B kết luận: Khôi phục, trích xuất được 70 (bảy mươi) tin nhắn SMS, không tìm thấy dữ liệu từ ứng dụng Zalo, M trong điện thoại Iphone 13 Promax gửi giám định. (Chi tiết được thể hiện trong tệp tin “Tin nhan", dung lượng 24,2KB lưu trữ trong 01 đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell, màu cam). Quá trình giám định kỹ thuật số điện tử xác định: 70 (bảy mươi) tin nhắn SMS được khôi phục, trích xuất của trong chiếc điện thoại di động của Đỗ Thành C không liên quan đến nội dung vụ án và hành vi vi phạm pháp luật khác
Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại phòng 10 tầng 4 như sau:
Tại Phòng số 10 tầng 4 của quán K3 có 04 đối tượng (02 nam, 02 nữ), gồm: Nguyễn Văn Luận H3, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Đỗ Văn H4, sinh năm 1994, trú tại Phố S, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quàng Thị P2, sinh năm 2002, trú tại tổ C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quàng Thị H5, sinh năm 2002, trú tại bản Sam Măn 2, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Thu giữ tại phòng: 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 1.000 đồng số seri NN 1709667; 01 tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 1.000 đồng số seri AE 2904166; 01 bình gas mini, một đầu được gắn khò; 01 tờ giấy (loại giấy ăn màu nâu vàng) được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KTT4”.
Ngoài ra, thu giữ của các đối tượng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số Imel 353167664544004 của Nguyễn Văn Luận H3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số Imel 359308702883392 của Quàng Thị P2; 01 căn cước công dân mang tên Quàng Thị H5 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imel 352841111858875 của Quàng Thị H5; 01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Văn H4 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imel 352680946287136 của Đỗ Văn H4.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường tại quán K3 thu giữ tại Phòng số 10 tầng 4 gồm 01 loa ngang BMB.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho các đối tượng test nhanh ma tuý, kết quả Nguyễn Văn Luận H3, Quàng Thị P2 dương tính với chất ma túy M1; Đỗ Văn H4 dương tính với chất ma túy MDMA, KET; Quàng Thị H5 dương tính với chất ma túy KET.
Ngày 06/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh B giám định chất ma túy thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KTT4” có bám dính chất ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng bao nhiêu. Tại Kết luận giám định số 1282/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K4 - Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “KTT4” được niêm phong gửi giám định:
- Trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- Trên 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng) có số seri NN 1709667 có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- Trên 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng) có số seri AE 2904166 có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- Trên 01 (một) bình gas mini, một đầu được gắn đầu khò không phát hiện thấy bám dính chất ma túy.
- Trên 01 (một) tờ giấy (loại giấy ăn màu nâu vàng) có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Luận H3 khai nhận về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, Nguyễn Văn Luận H3 sử dụng tài khoản zalo tên “Nguyễn Thiện N2” trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số Imel 353167664544004 nhắn tin cho Đỗ Văn H4 sử dụng tài khoản zalo tên “Hiệp Sàn” trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số I 352680946287136 để rủ Đỗ Văn H4 đi sử dụng ma tuý ketamine, do trước đó khoảng 01 tuần, Luận Hiệp được một nhân viên nữ cho một ít ma tuý ketamine (được gói trong 02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ tiền là 1.000 đồng), thì Đỗ Văn H4 nhắn tin lại đồng ý. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, Nguyễn Văn Luận H3 và Đỗ Văn H4 đến quán K3. Trước khi đi, Luận H3 sử dụng nick zalo “Nguyễn Thiện N2” liên hệ với nick zalo “Phong KTV” số điện thoại 0921.974.xxx (của nam thanh niên tên P là nhân viên quán K3) liên hệ đặt phòng để sử dụng ma tuý và được P đồng ý; đồng thời Luận H3 bảo P gọi cho 02 nhân viên nữ phục vụ. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Luận H3 và Văn H4 đi taxi đến quán K3 và được P mở cửa cho vào quán và đưa lên phòng số 10 tầng 4. Khi lên tầng 4 thì Luận H3 đi vào nhà vệ sinh còn Văn H4 và P đi vào phòng số 10. Văn Hiệp để điện thoại ở giường và nằm nghỉ, P cầm điện thoại của Văn H4 và kết nối với âm thanh trong phòng rồi đi ra. Sau đó, L H4 đi vào phòng số 10 thấy Văn H4 đang nằm ở đệm nên Luận H3 đã lấy đĩa, giấy ăn và bật lửa gas màu đỏ có sẵn trong phòng mang vào nhà vệ sinh, dùng bật lửa đốt giấy ăn để hơ làm nóng đĩa. Sau đó, Luận H3 mang đĩa vào và để trên bàn gần loa. Lúc này, 02 nhân viên nữ là Quàng Thị P2 và Quàng Thị H5 đi vào phòng và ngồi trên đệm. Luận H3 bỏ ma tuý Ketamine được gói trong 02 (hai) tờ tiền Ngân hàng N3 cùng mệnh giá 1.000 đồng đổ ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa màu xanh có sẵn trong phòng xào và Luận Hiệp kẻ ma tuý Ketamine thành 06 (sáu) đường thẳng. Tiếp đó, L H3 thấy chiếc ví của Văn H4 ở trên đệm nên Luận H3 đã cầm và mở ví lấy 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 10.000 đồng để quấn tẩu (khi L H3 lấy tiền để quấn tẩu thì Văn H4 không biết). Sau khi quấn tẩu xong, Luận H3 để tẩu vào đĩa ma túy và đưa cho Văn H4 đĩa ma tuý và bảo “Này, chơi đi”. Văn Hiệp cầm đĩa, sử dụng 02 đường ma tuý ke rồi đặt đĩa ma tuý xuống đệm; sau đó Luận H4 cầm đĩa ma tuý đưa cho P2 và H5 mỗi người sử dụng 01 đường ma tuý. Luận Hiệp không sử dụng ma tuý, sau đó Luận H3, Văn H4, P2 và H5 cùng nằm nghe nhạc. Khoảng 30 phút sau, Luận H3 thấy có người báo Công an kiểm tra nên Luận H3 đã cầm đĩa ma tuý (trên đĩa còn 02 đường ke) mang vào nhà vệ sinh rửa sạch. Sau đó, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra đã phát hiện thu giữ, niêm phong các dụng cụ sử dụng ma tuý và đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện V để làm việc.
Ngày 06/7/2023, tại Công an huyện V, Nguyễn Văn Luận H3 đã xin đầu thú và khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tú
Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số Bản án số: 15/2024/HS-ST ngày: 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) V đã quyết định:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thành C 08 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/7/2023.
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tiêu Văn H 07 năm 09 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử phạt đối với các bị cáo trong vụ án; về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 01/2024 bị cáo Đỗ Thành C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 01/2024, bị cáo Tiêu Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày án sơ thẩm xử các bị cáo là đúng người đúng tội, tuy nhiên các bị cáo thấy mức hình phạt của án sơ thẩm là cao, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình các bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo; gia đình bị cáo C nộp Bản sao giấy khen năm 2016 và Bản sao giấy khen năm 2023 của UBND xã H, huyện V tặng cho ông Đỗ Viết L (bố đẻ bị cáo); gia đình bị cáo H nộp Bản sao giấy khen năm 2023 của UBND xã T, huyện V tặng cho Tiêu Văn H đã có thành tích xuất sắc trong công tác cứu người bị tai nạn giao thông nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của các bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo H, C có tình tiết giảm mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành C và Tiêu Văn H, Sửa bản án sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V. Giảm mức hình phạt tù đối với bị cáo C và H.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thành C từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 08 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/7/2023.
- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tiêu Văn H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 05 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xác nhận bị cáo Đỗ Thành C và Tiêu Văn H đã nộp tiền án phí HSST.
Phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến gì.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đều trình bày rất ân hận về hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Thành C, Tiêu Văn H, HĐXX thấy: hồi 23 giờ 45 phút ngày 05/7/2023, tại quán K3 thuộc tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V; Đội Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an huyện V phối hợp cùng Công an thị trấn B tiến hành kiểm tra, phát hiện tại Phòng 5 tầng 3 và Phòng 10 tầng 4 các đối tượng đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
Tại Phòng số 5 tầng 3: Đỗ Thành C đã hành vi chuẩn bị ma tuý Ketamine và đưa ma tuý cho Dương Văn T2 xào ke để cho C, T2, Chu Đức H1, Phạm Thị T4, Rcom H2, Nguyễn Thị T6, Lò Thị S2, Quàng Thanh T7, Nguyễn Xuân S1, Trịnh Thị Kim C1, Phạm Tiểu Q1, Lương Văn Q và Phan Thị L4 sử dụng (trong đó Phạm Thị T4, Phạm Tiểu Q1 đều chưa đủ 18 tuổi, Nguyễn Thị T6 chưa đủ 16 tuổi). Chu Đức H1 có hành vi kẻ ma tuý để cho C sử dụng.
Tại Phòng số 10 tầng 4: Nguyễn Văn Luận H3 đã có hành vi chuẩn bị ma túy Ketamine, đặt phòng, xào ma túy và đưa cho Đỗ Văn H4, Quàng Thị P2 và Quàng Thị H5 sử dụng.
Tiêu Văn H là chủ quán Karaoke L2, đã cho Công mượn phòng để tổ chức sinh nhật, trực tiếp biết mọi người đang sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 5 tầng 3 của quán K3 nhưng H không ngăn cản mà để cho những người này sử dụng ma tuý trong phòng tại quán do mình quản lý. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Thành C đã đủ yếu tố cấu thành "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; hành vi bị cáo Tiêu Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.. Tòa án sơ thẩm xét xử các bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thành C, Tiêu Văn H thấy: bị cáo cáo C và bị cáo H đều bị truy tố, xét xử về tội phạm rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù; cả hai bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo C 08 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo H 07 năm 09 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo C và gia đình bị cáo H đều giao nộp 1 số tài liệu gồm Giấy khen của Chủ tịch UBND xã T cho bị cáo H và bị cáo C năm 2022; Biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cho cả hai bị cáo tại cấp phúc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo. HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật TTHS, sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật TTHS. Xử:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành C và Tiêu Văn H, Sửa bản án sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V. Giảm mức hình phạt tù đối với bị cáo C và bị cáo H.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thành C 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/7/2023.
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tiêu Văn H 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2023
Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Đỗ Thành C và Tiêu Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xác nhận bị cáo Đỗ Thành C và Tiêu Văn H đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tiêu Văn Hiệp cùng đồng phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
