Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 12-9-2024.

V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Trung thống.
  2. Ông Nguyễn Văn Xuôi.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Quế Anh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Tính-Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HN, ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2024/QÐST-HN, ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh Đ, sinh năm 1977 (có đơn xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Thanh Đ là nguyên đơn trình bày: ông và bà Kim C tự quen biết nhau, được cha mẹ hai bên gia đình đồng ý cho ông bà đi đến hôn nhân, đám cưới được tổ chức vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào ngày 02/8/2017, nữ trang ngày cưới tổng cộng 03 chỉ vàng 24kra, số nữ trang này đã đồng ý bán hết để chi tiêu chung hiện nay không còn, sau ngày cưới bà Kim C về sống chung bên gia đình ông, thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, đi lại, quan hệ bạn bè, vợ chồng không tin tưởng nhau gia đình không hạnh phúc, ông và bà Kim C đã nhiều lần hàn gắn với nhau lại nhưng vẫn không hợp nhau rồi lại tiếp tục cự cãi nhau nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay không hàn gắn được.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng sinh được 01 người con chung tên tên Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Thiếu bà Huỳnh Thị H 840.000.000 đồng tiền thức ăn chăn nuôi.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

  • Về quan hệ hôn nhân: ông xin được ly hôn với bà Phạm Thị Kim C.
  • Về con chung tên: Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: ông và bà Kim C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Thiếu bà Huỳnh Thị H 840.000.000 đồng tiền thức ăn chăn nuôi, sau khi ly hôn ông lãnh trách nhiệm trả số tiền này cho bà H, không yêu cầu bà Kim C trả.

Tại biên bản lấy lời khai bà Phạm Thị Kim C là bị đơn trình bày: Bà là vợ của ông Huỳnh Thanh Đ. Bà hoàn toàn thống nhất lời trình bày của ông Đ về hôn nhân, con chung, nữ trang, tài sản chung và nợ chung là đúng sự thật. Quá trình chung sống vợ chồng có tài sản nhưng vợ chồng tự thỏa thuận, vợ chồng có thiếu nợ bà Huỳnh Thị H 840.000.000 đồng tiền thức ăn chăn nuôi. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do vợ chồng bất đồng ý kiến, sống không có hạnh phúc, nên vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay không hàn gắn được.

Nay về quan hệ hôn nhân bà đồng ý ly hôn với ông Huỳnh Thanh Đ; Về con chung tên Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: bà và ông Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Thiếu bà Huỳnh Thị H 840.000.000 đồng tiền thức ăn chăn nuôi, sau khi ly hôn ông Đ chịu trách nhiệm trả số tiền này cho bà H, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải vào ngày 21/5/2024 ông Đ và bà C tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án, Tòa án lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, đến ngày 23/5/2024 bà C thay đổi ý kiến cho rằng ông Đ không chịu chia tài sản cho bà nên bà không đồng ý. Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bà Phạm Thị Kim C là bị đơn vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay ông Huỳnh Thanh Đ là nguyên đơn vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Phạm Thị Kim C là bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn bà Phạm Thị Kim C chưa chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự cụ thể bà Phạm Thị Kim C không có mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Về nội dung vụ kiện Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy đinh tại các Điều 19, 51, 53, 54, 56 Luật hôn nhân gia đình;

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Huỳnh Thanh Đ.

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Huỳnh Thanh Đ và bà Phạm Thị Kim C được ly hôn.
  • Về con chung: Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • Về tài sản chung: Ông Đ và bà C chưa có yêu cầu, nên không xem xét.
  • Về nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên không xem xét.

Vị còn đề nghị buộc ông Huỳnh Thanh Đ có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa hôm nay ông Huỳnh Thanh Đ là nguyên đơn vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Phạm Thị Kim C là bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dụng vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của ông Huỳnh Thanh Đ và bà Phạm Thị Kim C được xác lập vào năm 1998 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào ngày 02/8/2017 đúng quy định của pháp luật. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, từ đó xác định hôn nhân giữa ông Đ và bà C là hôn nhân hợp pháp.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo ông Đ cho rằng sau ngày cưới bà Kim C về sống chung bên gia đình ông, thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, đi lại, quan hệ bạn bè, vợ chồng không tin tưởng nhau gia đình không hạnh phúc, ông và bà Kim C đã nhiều lần hàn gắn với nhau lại nhưng vẫn không hợp nhau rồi lại tiếp tục cự cãi nhau nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay không hàn gắn được.

Bà C cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do vợ chồng bất đồng ý kiến, sống không có hạnh phúc, nên vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay không hàn gắn được.

Nay ông Đ và bà C đều xác nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau và đều có nguyện vọng được ly hôn; Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Đ và bà C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung tên: Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: ông Đ không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Bà C yêu cầu chia tài sản, Tòa án có thông báo cho bà C nếu có yêu cầu chia tài sản thì phải làm đơn khởi kiện và đóng tiền tạm ứng án phí, nhưng bà C không làm đơn khởi kiện, nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Thiếu bà Huỳnh Thị H 840.000.000 đồng tiền thức ăn chăn nuôi. Do bà H có đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[2.5] Về án phí: ông Huỳnh Thanh Đ có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, bà Phạm Thị kim C2 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 54, 56 Luật hôn nhân gia đình;

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Huỳnh Thanh Đ.
    • Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Huỳnh Thanh Đ và bà Phạm Thị Kim C được ly hôn.
    • Về con chung: Huỳnh Văn C1, sinh năm 1999 hiện đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
    • Về tài sản chung: Ông Đ và bà C chưa có yêu cầu, nên không xem xét.
    • Về nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên không xem xét.
    • Về án phí: ông Huỳnh Thanh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002476, ngày 20/3/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long thu, ông Huỳnh Thanh Đ đã nộp đủ tiền án phí.
  2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh.
  • -VKSND huyện, tỉnh.
  • -CCTHADS huyện.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân sơ thẩm giữa ông Huỳnh Thanh đấu với bà Phạm Thị Kim Cương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger