|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 12/7/2024.
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Mang Thị T – sinh năm 2000 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện B – Bình Thuận.
*Bị đơn: Anh Lê Ngọc N – sinh năm 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn G, xã T1, huyện B – Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 cũng như lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mang Thị T trình bày: Chị và anh Lê Ngọc N tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống hay cãi vả nhau, anh Lê Ngọc N không chịu làm ăn, thường xuyên uống rượu, bài bạc, vô lễ không tôn trọng cha mẹ, chửi bới xúc phạm và đánh đập chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa đề nghị ly hôn với anh Lê Ngọc N. Về con: Vợ chồng có 01 con tên: Mang Ngọc Phương L – sinh ngày 06/02/2020. Khi ly hôn, chị Mang Thị T xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Ngọc N vắng mặt không trình bày gì.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Lê Ngọc N để tống đạt văn bản tố tụng, nhưng anh Lê Ngọc N không đến Tòa án huyện để tham gia phiên Tòa. Do đó, vụ án giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của anh Lê Ngọc N không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì anh Lê Ngọc N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt chứng tỏ anh đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Ngọc N.
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2024 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T1, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.
2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Mang Thị T thì chị và anh Lê Ngọc N sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Mang Thị T khai nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống hay cãi vả nhau, anh Lê Ngọc N không chịu làm ăn, thường xuyên uống rượu, bài bạc, vô lễ không tôn trọng cha mẹ, chửi bới xúc phạm và đánh đập chị. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập anh Lê Ngọc N nhiều lần nhưng anh Lê Ngọc N cố tình vắng mặt chứng tỏ anh Lê Ngọc N không có thiện chí để đoàn tụ gia đình. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Mang Thị T và anh Lê Ngọc N rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mang Thị T.
3. Về con chung: Chị Mang Thị T khai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 01 con tên: Mang Ngọc Phương L – sinh ngày 06/02/2020, khi ly hôn chị Mang Thị T nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
4. Về tài sản và nợ: Chị Mang Thị T không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Mang Thị T không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng chị là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Lê Ngọc N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mang Thị T đối với anh Lê Ngọc N. Chị Mang Thị T được ly hôn với anh Lê Ngọc N.
- Về con chung: Giao cháu Mang Ngọc Phương L – sinh ngày 06/02/2020 cho chị Mang Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Mang Thị T không yêu cầu cấp dưỡng. Anh Lê Ngọc N có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về án phí, lệ phí: Chị Mang Thị T là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị Mang Thị T đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013144 ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.
Anh Lê Ngọc N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Mang Thị T có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng anh Lê Ngọc N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ung Thanh Quang |
4
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST. ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn - nuôi con
