|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 11/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Lượng
- Ông Nguyễn Minh Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS, ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Hoàng Minh V, sinh ngày 16/01/1983 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Hoàng Viết T, con bà: Đỗ Thị C (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; A, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Nguyễn Thái S, sinh ngày 22/11/1972 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Nguyễn Đức C1, con bà: Đinh Thị H1 (đều đã chết); Vợ: Vũ Thị Hồng T1, sinh năm 1975; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Bùi Thị D, sinh ngày 23/7/1994 tại huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Bùi Văn C2, sinh năm 1966, con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; Chồng Nguyễn Thế A, sinh năm 1994; con: Có 01 con sinh năm 2019; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Phạm Văn T2, sinh ngày 14/5/1994 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Thành T3, sinh năm 1970, con bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Trần Hải L, sinh ngày 06/9/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tổ D, TT S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Đình L1, sinh năm 1965, con bà: Trần Thị H2 (đã chết); Vợ: Lương Thị H3, sinh năm 1988; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 14/02/2020 Ủy ban nhân dân huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ hàng cấm, phạt tiền 7.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại TT S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Trần Văn T4, sinh ngày 11/10/1978 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Trần Văn C3, sinh năm 1939, con bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1947; Vợ: Nguyễn Thị Minh T5, sinh năm 1981; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2015; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Trần Văn H4, sinh ngày 02/7/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tổ D, TT S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Trần Văn C4, sinh năm 1967, con bà Lê Thị D2, sinh năm 1966; Vợ: Nguyễn Thị Tố N2, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại TT S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Hoàng Văn T6, sinh ngày 19/12/1981 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Viết T, con bà: Đỗ Thị C (đều đã chết); Vợ, con: Chưa có. Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 14/10/1972 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tổ D, TT S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Tạm trú: Tổ B, phường T, TP T, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn T7 (đã chết), con bà Nguyễn Thị C5, sinh năm 1942; Vợ: Đỗ Thị Vân Đ, sinh năm 1979; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Hoàng Việt T8, sinh ngày 08/10/1974 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Hoàng Viết T, con bà: Đỗ Thị C (đều đã chết); Vợ: Phạm Thị H5, sinh năm 1972; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1994; A, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Trịnh Hữu Q, sinh ngày 19/6/1988 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trịnh Hữu L2 (đã chết), con bà Vũ Thị S1, sinh năm 1950; Vợ: Khương Hồng T9, sinh năm 1990; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; A, chị, em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ bảy.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
-
Nguyễn Thị H, sinh ngày 12/4/1982 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông: Nguyết C (đã chết), con bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1958; Chồng: Hoàng Minh V, sinh năm 1983; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Minh V: Ông Hoàng Văn V1, Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Bị cáo Hoàng Minh V đã có đơn từ chối người bào chữa, nên ông V1 không có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 ngày 14/3/2024, các đối tượng Nguyễn Ngọc Á, Trần Hải L, Trần Văn H4, Bùi Thị D, Hoàng Việt T8, Hoàng Văn T6, Trần Văn T4, Nguyễn Thái S, Phạm Văn T2, Trịnh Hữu Q cùng rủ nhau xuống gian bếp nhà Hoàng Minh V, trú tại thôn T, xã T, huyện S để đánh bạc bằng hình thức đánh liêng (không xác định được người rủ). Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân do H4 lấy ở gian bán hàng nhà V làm dụng cụ đánh bạc. S, T2, T6 lấy 02 chiếu nhựa có sẵn trong gian bếp nhà V trải xuống nền bếp để ngồi. Các đối tượng thống nhất mức đặt cược (góp gà) thấp nhất là 20.000 đồng, tố cao nhất là 200.000 đồng.Luật chơi như sau: Sử dụng bộ tú lơ khơ 52 quân bài, trộn đều. Người trộn bài chia cho mỗi người chơi 03 lá bài ngẫu nhiên, sau đó tất cả mở bài để chọn “Cái”, ai cao điểm nhất được làm “Cái” (được quyền đi đầu tiên). Từ ván bạc tiếp theo ai thắng sẽ là “Cái”. Sau đó, nhà “Cái” chia bài cho mỗi người 03 lá bài ngẫu nhiên. Khi chia bài xong mỗi người chơi đặt cược 10.000 đồng (góp gà), sau khi đặt cược (góp gà) xong, người chơi xem bài theo thứ tự người chia bài vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ rồi có lựa chọn như sau:
- - Úp bài: Nếu thấy bài yếu không thắng được thì bỏ bài, không tham gia ván bạc đó, người úp bài mất tiền cược ván đó.
- - Theo: Đặt cược tiền bằng với người trước (cửa trên) cược.
- - Tố: Đặt tiền cao hơn người cửa trên đặt cược.
- - Cân: Người ngồi cuối cùng trong ván bạc (tính từ người tố cuối cùng) theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, cược tiền bằng so với tiền người trước cược, sau đó người chơi mở bài để so sánh, ai cao điểm nhất thì thắng toàn bộ tiền cược của ván bạc đó.
Thứ tự bài từ cao xuống thấp như sau:
- - Sáp: Là bài có 03 lá bài giống nháu, thứ tự sáp từ nhỏ đến lớn như sau: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, A.
- - Liêng: Là bộ bài có 03 lá bài liên tiếp nhau. Liêng cao nhất là Q, K, A T10 nhất là A, 2, 3. Khi người chơi đều có Liêng thì ai có Liêng cao hơn sẽ thắng. Khi Liêng bằng nhau thì so sánh chất lá bài thứ tự từ cao xuống thấp Rô, Cơ, Tép, Bích.
- - Ảnh (Đĩ): Lá bài có 03 quân hình đầu người. Ảnh cao nhất là Q, K, K. Khi người chơi đều có ảnh thì so sánh lá bài cao nhất, nếu bằng nhau thì so sánh tới chất của bài thứ tự từ cao xuống thấp Rô, Cơ, Tép, Bích.
- - Điểm: Nếu bài không có “Sáp”, “Liêng”, “Ảnh”, “Đĩ” thì cộng tổng điểm của 03 lá bài lại rồi lấy số hàng đơn vị của kết quả để so sánh với nhau, điểm lớn nhất là 9, nhỏ nhất là 0 điểm, các lá bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm, quân A (át) được tính 1 điểm, ai cao điểm hơn tính bài lớn hơn, nếu bằng điểm nhau thì so sánh chất lá bài theo thứ tự Rô, cơ, tép, bích.
Quá trình đánh bạc thì Nguyễn Thị H (vợ của V) có mang nước vào vị trí đánh bạc phục vụ các đối tượng đánh bạc; Hoàng Minh V thu tiền hồ của 09 người gồm: Ánh, L, H4, T8, T6, T4, S, T2, Q mỗi người 40.000đ, được số tiền 360.000đ, V cho thêm 40.000đ và đưa cho H 400.000đ. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì V, T8, Q nghỉ không tham gia đánh bạc nữa.
Các đối tượng còn lại đánh bạc đến 15 giờ 05 phút thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện bắt quả tang và thu giữ Tiền ngân hàng N3 thu trên chiếu bạc là 7.310.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và 02 chiếu nhựa màu vàng, xanh là dụng cụ các đối tượng sử dụng đánh bạc; Nguyễn Thái S tự nguyện giao nộp 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 5.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc Á tự nguyện giao nộp 01 ví giả da màu vàng bên trong có số tiền 600.000 đồng; Trần Hải L tự nguyện giao nộp 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.000.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị can khai nhận đã sử dụng tiền đánh bạc, cụ thể:
- Nguyễn Thái S tham gia đánh bạc có số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, S bỏ ra trước số tiền 1.000.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn số tiền 5.000.000 đồng để trong ví nếu thua bạc sẽ lấy ra tiếp tục sử dụng đánh bạc. S cùng T6, T2 trải 02 chiếu nhựa trên nền bếp nhà V để đánh bạc. Quá trình đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, S đang thua bạc trong số tiền 1.000.000 đồng lấy ra ban đầu, không rõ thua bao nhiêu, S để tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ. Số tiền 5.000.000 đồng để trong ví S tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Số tiền đánh bạc của S là 5.960.000 đồng.
- Bùi Thị D tham gia đánh bạc có số tiền 230.000 đồng để đánh bạc. D không nộp tiền hồ cho V. Khi bị bắt quả tang D không rõ thắng thua và để tiền xuống chiếu bạc thì bị tạm giữ.
- Phạm Văn T2 có số tiền 1.200.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 1.160.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang T2 không rõ thắng thua và để tiền xuống chiếu bạc thì bị tạm giữ.
- Trần Hải L tham gia đánh bạc có số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc, L bỏ ra trước số tiền 600.000 đồng, còn số tiền 1.000.000 đồng để trong ví nếu thua bạc sẽ lấy ra tiếp tục sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc L nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ. Khi bị bắt quả tang, L không rõ thắng thua để tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ. Số tiền 1.000.000 đồng để trong ví L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Số tiền L dùng để đánh bạc là 1.560.000 đồng.
- Trần Văn T4 có số tiền 500.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 460.000 đồng sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T4 đang thắng bạc được số tiền 200.000 đồng, T4 để hết tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ.
- Trần Văn H4 có số tiền 850.000, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 810.000 đồng đồng sử dụng đánh bạc. Trước khi đánh bạc H4 lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn tại quần bán hàng nhà V làm dụng cụ đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, H4 không rõ thắng thua, H4 để hết tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ.
- Hoàng Văn T6 có số tiền 600.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 560.000 đồng sử dụng đánh bạc. Trước khi đánh bạc T6 cùng S, T2 trải 02 (hai) chiếu nhựa trên nền bếp nhà V để ngồi đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T6 không rõ thắng thua, T6 để hết tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ.
- Nguyễn Ngọc Á tham gia đánh bạc có số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc. Á bỏ ra trước số tiền 400.000 đồng, còn số tiền 600.000 đồng để trong ví nếu thua bạc sẽ lấy ra tiếp tục sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc Á nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ. Khi bị bắt quả tang, Á không rõ thắng thua để tiền xuống chiếu bạc và bị tạm giữ. Số tiền 600.000 đồng để trong ví Á tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Vậy số tiền Á sử dụng đánh bạc là 960.000 đồng.
- Hoàng Việt T8 có số tiền 200.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 160.000 đồng sử dụng để đánh bạc. T8 tham gia đánh bạc đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày Tân chơi thua tiền nên nghỉ trước và đi về nhà. Ngày 20/3/2024, T8 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đầu thú về hành vi đánh bạc nêu trên.
- Trịnh Hữu Q có số tiền 300.000 đồng, nộp cho V 40.000 đồng tiền hồ, còn lại 260.000 đồng sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Q bị thua hết số tiền 260.000 đồng, sau đó Q nghỉ trước và đi về nhà. Đến ngày 20/3/2024, Q đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S để đầu thú về hành vi đánh bạc trên.
- Hoàng Minh V khai nhận: V tham gia đánh bạc có số tiền 600.000 đồng sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc V thu tiền hồ của 09 người chơi gồm: Ánh, L, H4, T8, T6, T4, S, T2, Q mỗi người 40.000 đồng được số tiền 360.000 đồng. Sau đó, V bỏ thêm 40.000 đồng cho đủ 400.000 đồng rồi V đưa số tiền 400.000 đồng cho vợ là Nguyễn Thị H. V tham gia đánh bạc đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì nghỉ và đi vào ngủ trong phòng, V không thắng, không thua bạc. Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày V đến Công an huyện S để đầu thú về hành vi đánh bạc trên. Vậy số tiền V sử dụng để đánh bạc là 560.000 đồng.
- Nguyễn Thị H khai nhận: Khi các đối tượng đánh bạc tại gian bếp nhà H do H và V quản lý thì H có mặt ở nhà, H biết việc các đối tượng tụ tập đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi liêng. Quá trình các đối tượng đánh bạc thì H có mang nước vào gian bếp để phục vụ các đối tượng. Sau khi V thu tiền hồ của 09 người chơi mỗi người 40.000 đồng được số tiền 360.000 đồng thì V tự bỏ thêm 40.000 đồng và đưa cho H cầm số tiền 400.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng đánh bạc là 12.680.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S thu giữ trên chiếu bạc và số tiền các bị cáo tự giao nộp là 14.910.000 đồng. Trong số tiền này có 400.000 đồng là tiền hồ do V và Hà thu của 09 người chơi, mỗi người 40.000 đồng, V tự bỏ ra 40.000 đồng để đưa cho H. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 14.510.000 đồng. Chênh lệch 1.830.000 đồng so với tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng đánh bạc, không xác định được của ai nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ: Tiền ngân hàng N3 thu trên chiếu bạc là: 7.310.000 đồng; 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 5.000.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc do Nguyễn Thái S tự nguyện giao nộp; 01 ví giả da màu vàng bên trong có số tiền 600.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc do Nguyễn Ngọc Á tự nguyện giao nộp; 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.000.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc do Trần Hải L tự nguyện giao nộp; Tiền ngân hàng N3 600.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc do Hoàng Minh V tự nguyện giao nộp; Tiền ngân hàng N3 400.000 đồng do Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 02 chiếu nhựa màu vàng, xanh.
Cáo trạng số 72/CT-VKSSD, ngày 30/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố:
- Hoàng Minh V về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự và tội Gá bạc, quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự;
- Nguyễn Thị H về tội Gá bạc, quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.
- Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Hoàng Minh Vượng phạm hai tội Đánh bạc và tội Gá bạc; Nguyễn Thị H phạm tội Gá bạc; Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q phạm tội Đánh bạc.
1. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh V từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Đánh bạc; từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Gá bạc. Buộc bị cáo Hoàng Minh V phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Hải L, Phạm Văn T2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 18 đến 24 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 BLHS (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Trần Văn T4) đề nghị xử phạt các bị cáo Bùi Thị D, Trần Văn T4 từ 06 tháng đến 09 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày quy đổi bằng 21 ngày cải tạo không giam giữ, buộc các bị cáo phải chấp hành từ 05 tháng 09 ngày đến 08 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 BLHS (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Á) đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Văn T6 từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày quy đổi bằng 21 ngày cải tạo không giam giữ, buộc các bị cáo phải chấp hành từ 08 tháng 09 ngày đến 11 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H4 từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày quy đổi bằng 21 ngày cải tạo không giam giữ, buộc bị cáo phải chấp hành từ 11 tháng 09 ngày đến 14 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q từ 06 tháng đến 09 tháng Cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước nhà nước số tiền 14.910.000 đồng (trong đó: thu giữ trên chiếu bạc là 7.310.000đ; Nguyễn Thái S tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000đ; Nguyễn Ngọc Á tự nguyện giao nộp số tiền 600.000đ; Trần Hải L tự nguyện giao nộp số tiền 1.000.000đ; Hoàng Minh V tự nguyện giao nộp số tiền 600.000đ; Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp số tiền 400.000đ).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 02 chiếu nhựa màu vàng, xanh; 01 ví giả da màu vàng của Nguyễn Ngọc Á; 01 ví giả da màu đen của Trần Hải L.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Thái S 01 ví giả da màu nâu.
3. Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q, Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hoàng Minh V được miễn nộp án phí hình sự sở thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo V đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Minh V, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội giữa các bị cáo là phù hợp với nhau, với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ khoảng 12 giờ 30 phút đến 15 giờ 05 phút ngày 14/3/2024, tại gian bếp nhà Hoàng Minh V (là người khuyết tật nặng) và vợ là Nguyễn Thị H, trú tại thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, các bị cáo Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q và Hoàng Minh V đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng.
Tổng số tiền các bị can khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc là 12.680.000 đồng. Cụ thể:
- Nguyễn Thái S sử dụng 5.960.000 đồng để đánh bạc.
- Bùi Thị D sử dụng 230.000 đồng để đánh bạc.
- Phạm Văn T2 sử dụng 1.160.000 đồng để đánh bạc.
- Trần Hải L sử dụng 1.560.000 đồng để đánh bạc
- Trần Văn T4 sử dụng 460.000 đồng để đánh bạc.
- Trần Văn H4 sử dụng 810.000 đồng để đánh bạc.
- Hoàng Văn T6 sử dụng 560.000 đồng để đánh bạc.
- Nguyễn Ngọc Á sử dụng 960.000 đồng để đánh bạc.
- Hoàng Việt T8 sử dụng 160.000 đồng để đánh bạc.
- Trịnh Hữu Q sử dụng 260.000 đồng để đánh bạc.
- Hoàng Minh V sử dụng 560.000 đồng để đánh bạc.
Các bị cáo đánh bạc đến 15 giờ 05 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền thu trên chiếu bạc và các đối tượng giao nộp (mục đích đánh bạc) là 14.910.000 đồng. Trong số tiền này có 400.000 đồng là tiền hồ, do V thu của 09 người chơi, mỗi người 40.000 đồng, V bỏ ra 40.000 đồng. Do đó xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 14.510.000 đồng, các đối tượng khai nhận sử dụng 12.680.000 đồng để đánh bạc. Chênh lệch 1.830.000 đồng so với tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng đánh bạc, không xác định được của ai nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung.
* Về hành vi gá bạc:
Quá trình đánh bạc Hoàng Minh V đã thu tiền hồ của 09 người đánh bạc mỗi người 40.000 đồng, được số tiền 360.000 đồng, V cho thêm 40.000 đồng, được tổng số tiền 400.000 đồng và đưa cho Nguyễn Thị H (vợ của V).
Quá trình các đối tượng đánh bạc, Nguyễn Thị H có mang nước vào vị trí đánh bạc phục vụ các đối tượng đánh bạc và nhận số tiền 400.000 đồng (là tiền hồ các đối tượng đã nộp).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Hoàng Minh V phạm hai tội Đánh bạc và tội Gá bạc; Nguyễn Thị H phạm tội Gá bạc; Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q phạm tội Đánh bạc là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo đã đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền sát phạt nhau. Do vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục các bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội không có tổ chức mà là đồng phạm giản đơn, xét tính chất, mức độ, vai trò và nhân thân của các bị cáo được đánh giá như sau: Trần Văn H4 là người lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn tại quầy bán hàng nhà V làm dụng cụ đánh bạc; Nguyễn Thái S, Hoàng Văn T6, Phạm Văn T2 là những người trải 02 chiếu nhựa trên nền bếp nhà V để ngồi đánh bạc.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Hoàng Việt T8 và Trịnh Hữu Q ra đầu thú; Bị cáo Nguyễn Ngọc Á có bố đẻ là Nguyễn Văn T7 và mẹ đẻ là Nguyễn Thị C5 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn, mẹ đẻ được tặng Kỷ niệm chương Thanh niên xung phong; bị cáo Trần Văn T4 có bố đẻ ông Trần Văn C3 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, mẹ đẻ Nguyễn Thị D1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho các bị cáo để có mức án phù hợp.
Bị cáo Hoàng Minh V là người khuyết tật nặng, thành khẩn khai báo, bị cáo ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị H thành khẩn khai báo, bị cáo có nhiều đóng góp cho địa phương trong công tác phòng chống dịch Covid, ủng hộ đồng bào Miền Trung bị thiên tai bão lũ, đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người cao tuổi, có xác nhận của chính quyền địa phương là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Hoàng Minh V và Nguyễn Thị H dùng nhà bếp của mình để cho các đối tượng đánh bạc, bị cáo V là người trực tiếp thu tiền hồ của các đối tượng đánh bạc đưa cho bị cáo H (là vợ của bị cáo V) và trực tiếp tham gia chơi bạc; bị cáo H mặc dù bị cáo biết các đối tượng đánh bạc tại bếp nhà mình, biết V thu tiền hồ của các đối tượng và tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo không can ngăn mà còn cầm 400.000đ tiền hồ, mang nước vào phục vụ các đối tượng đánh bạc. Do vậy cần phải xử các bị cáo mức án thật nghiêm khắc. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét bị cáo V và H là hai vợ chồng nên cần xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo H được cải tạo, giáo dục tại địa phương như vậy cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Trần Hải L, ngày 14/02/2020 Ủy ban nhân dân huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ hàng cấm, phạt tiền 7.500.000 đồng. Công an huyện S đã có 04 biên bản đôn đốc Trần Hải L nộp phạt (ngày 28/3/2020; 18/5/2020; 19/7/2020 và ngày 20/9/2020) nhưng bị cáo chưa thi hành. Từ tháng 10/2020 đến nay cơ quan có thẩm quyền không đôn đốc. Tính đến thời điểm phạm tội đã hết thời hiệu thi hành. Do vậy cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo được coi là nhân thân tốt, chưa có tiền sự.
Bị cáo Nguyễn Thái S, Trần Hải L đánh bạc với số tiền lớn hơn các bị cáo khác; bị cáo T2, S, T6 là người trải chiếu, bị cáo H4 là người lấy quân bài nên buộc phải chịu mức án cao hơn các bị cáo khác như vậy mới thỏa đáng.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo Nguyễn Thái S, Trần Hải L, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng, đánh bạc với số tiền không lớn. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo Nguyễn Thái S, Phạm Văn T2, Trần Hải L được hưởng án treo; các bị cáo Nguyễn Ngọc Á, Bùi Thị D, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q được cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo D, T4, H4, T6, Á được khấu từ thời gian tạm giữ từ 14/3/2024 đến 20/3/2024 = 07 ngày. Quy đổi 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ = 21 ngày. Do điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Bùi Thị D, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q, Nguyễn Ngọc Á.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận, xử các bị cáo mức án trong mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Minh V có đơn nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo, nhưng tại phiên tòa bị cáo có đơn từ chối người bào chữa. Xét thấy việc từ chối người bào chữa của bị cáo là tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Do vậy HĐXX chấp nhận đề nghị của bị cáo.
[5] Về vật chứng:
Đối với 52 quân bài tú lơ khơ, 02 chiếu nhựa màu vàng, xanh là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 14.910.000đồng thu tại vị trí các đối tượng đánh bạc và các đối tượng giao nộp là tang vật của vụ án cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 ví giả da màu vàng thu của Nguyễn Ngọc Á; 01 ví giả da màu đen thu của Trần Hải L do các đối tượng tự nguyện giao nộp. Tại phiên tòa các bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng đề nghị tiêu hủy, do vậy HĐXX chấp nhận.
Đối với 01 ví giả da màu nâu thu của bị cáo Nguyễn Thái S. Là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q, Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Hoàng Văn V2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Nhưng do bị cáo là người khuyết tật nặng, bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Bị cáo thuộc đối tượng được miễn án phí, do vậy HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và bị cáo. Miễn 100% án phí HSST cho bị cáo Hoàng Minh V.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 321; Điều 322; Điều 51; Điều 36; Điều 38; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
Hoàng Minh V phạm hai tội Đánh bạc và tội Gá bạc;
Nguyễn Thị H phạm tội Gá bạc;
Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q phạm tội Đánh bạc.
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm p, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh V 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc; 01 (một) năm tù về tội Gá bạc. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ 14/3/2024 đến 20/3/2024.
1.2. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thử thách 02 (hai) năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024).
1.3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hải L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T2 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024).
Giao các bị cáo Nguyễn Thái S, Phạm Văn T2, Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; bị cáo Trần Hải L cho UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự).
1.4. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự; (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q, Trần Văn T4).
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị D 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày (quy đổi thành 21 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T4 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày (quy đổi thành 21 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H4 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày (quy đổi thành 21 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T6 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày (quy đổi thành 21 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Á 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 là 07 ngày (quy đổi thành 21 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Việt T8 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Hữu Q 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S nhận được quyết định thi hành án. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Giao bị cáo Bùi Thị D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; bị cáo Trần Văn T4, Hoàng Văn T6, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; bị cáo Trần Văn H4, Nguyễn Ngọc Á cho UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài lá tú lơ khơ 52 lá bài và 02 chiếu nhựa màu vàng, xanh; 01 ví giả da màu vàng của Nguyễn Ngọc Á; 01 ví giả da màu đen của Trần Hải L.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái S 01 ví giả da màu nâu.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền đã tạm giữ là 14.910.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm mười nghìn đồng).
(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
3.1. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thái S, Bùi Thị D, Phạm Văn T2, Trần Hải L, Trần Văn T4, Trần Văn H4, Hoàng Văn T6, Nguyễn Ngọc Á, Hoàng Việt T8, Trịnh Hữu Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn 100% án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Minh V.
3.2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Trần Hữu Lượng - Nguyễn Minh Hùng |
Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tội đánh bạc và tội gá bạc
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc và Tội Gá bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H.M.V + DP đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, vợ của H.M.V là N.T.H phạm tội gá bạc
