Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Văn Toản

Bà Lê Thị Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hà Thị Q; sinh năm: 1991; HKTT: Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn H; sinh năm: 1989; HKTT: Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà vắng mặt chị Q, anh H. Chị Q đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị Q trình bày: Chị và anh Phạm Văn H kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 30/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N (Nay là thị trấn N), huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Ngoài ra, anh H không tu chí làm ăn, thường xuyên theo bạn bè uống rượu say. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Hà Phương T, sinh ngày 29/10/2014. Hiện cháu T đang ở với anh H. Nếu ly hôn, chị Q giao cháu T cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phạm Văn H trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu say. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Hà Phương T, sinh ngày 29/10/2014. Hiện cháu T đang ở với anh H. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T. Không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, anh đang làm công nhân, thu nhập bình quân hằng tháng 8.000.000₫ (Tám triệu đồng), anh đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Q đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh H không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hà Thị Q được ly hôn anh Phạm Văn H. Giao cháu Phạm Hà Phương T, sinh ngày 29/10/2014 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Hà Thị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn H, nơi cư trú tại Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Hà Thị Q đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn H lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh H vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị Q, anh H.

[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị Q và anh Phạm Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N (Nay là thị trấn N), huyện N, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Anh H không đồng ý ly hôn nhưng cũng thừa nhận tình trạng cuộc sống hôn nhân của anh chị đang mâu thuẫn như ý kiến trình bày của chị Q, anh thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu say. Ngoài ra, Tòa án đã thông báo nhưng anh H không đến tham gia phiên toà, thể hiện anh H không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị Q, anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Q được ly hôn anh H.

[3] Về con chung: Chị Q và anh H có 01 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu T đang ở với anh H. Cháu T có nguyện vọng muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Chị Q và anh H đã tự nguyện thống nhất về việc giao người trực tiếp nuôi con. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu T, cũng như theo nguyện vọng của cháu T. Chấp nhận yêu cầu của chị Q và anh H: giao cháu T cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh H, đây là sự tự nguyện của anh H, chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị Q, anh H không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Q được ly hôn anh Phạm Văn H.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hà Phương T, sinh ngày 29/10/2014 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Hà Thị Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số 0004283 ngày 11/7/2024. Chị Q đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị Q, anh H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện;
  • - UBND TT Ngọc Lặc;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị Q xin ly hôn anh Phạm Văn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger