Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày: 09/5/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Ông Phạm Trường Du

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXPT-HS ngày 03/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/QĐHPT-HS ngày 16/4/2024 đối với:

* Bị cáo bị kháng cáo họ và tên:

  1. Nguyễn Thị Đ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 6 năm 1986 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn S bà Nguyễn Thị T; Chồng là Nguyễn Văn H đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2022. Hiện có mặt tại phiên tòa.
  2. Doãn Thị L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1970 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Doãn Văn M bà Lê Thị H1 là Phan Văn D Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có 3 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2022 đến ngày 06/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Phạm Thị V năm 1966; Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Đ1 Doãn Thị L1 mối quan hệ quen biết nhau từ năm 2015, Đ2 gọi điện thoại, gặp gỡ, qua lại để nhờ Lcầu giải hạn. Khoảng năm 2021, biết L1 nhiều khách hàng cũng thường đến nhờ giải hạn, cầu may nên Đlợi dụng mối quan hệ này, giả danh người có tên là Hoàng Thị M1 sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để thực hiện ý định trên, Đ3 điện thoại từ số 0378.701.xxx đến số điện thoại của L0399.656.xxx giới thiệu cho L2 quen với người có tên là Misau đó Đ4 là M1sử dụng số điện thoại 0865.044.xxx gọi cho Liên tự giới thiệu là Hoàng Thị M1sinh năm 1961, là thạc sỹ, làm việc tại Bệnh viện Qđã nghỉ hưu. Sau nhiều lần gọi điện thoại, tâm sự chuyện gia đình, để tạo lòng tin, M1nói với L3 có nhiều mối quan hệ, có khả năng xin được việc làm cho nhiều người trong ngành y, nếu L1 nhu cầu xin việc cho con cháu thì M1giúp. Liên tưởng thật nên khoảng đầu tháng 8/2021, bà Phạm Thị V1 nhờ L4 cầu xin việc cho con gái là Nguyễn Thị Lan P tốt nghiệp Đại học Ythì Lđã giới thiệu cho bà V2 M1và cho bà V3 điện thoại của M1để liên lạc. Ngày 13/8/2021, L5 cấp số điện thoại 0362.153.xxx của M1và thông báo cho bà V2 M1 đã đồng ý xin việc cho con bà. Chiều cùng ngày, người có tên là M1gọi điện thoại từ số 0362.153.xxx đến số điện thoại 0986.713.xxx của bà V4 giới thiệu là M1 và hứa xin được cho con gái bà V5 làm việc tại Bệnh viện Q

Từ ngày 20/8/2021 đến ngày 15/10/2021, với nhiều lý do khác nhau, Miđã yêu cầu bà V6 số tiền 200.000.000đ để xin việc cho con gái bà V7 chiếm đoạt số tiền này. Bà V8 đưa trực tiếp cho Doãn T1 L06 lần với tổng số tiền là 170.000.000₫ để L6 trực tiếp cho Nguyễn Thị Đ5 lần còn lại bà V6 trực tiếp vào tài khoản số 505100000132717 của Đtại Ngân hàng Đ30(Bmỗi lần chuyển 10.000.000đ vào các ngày 21/9/2021, 12/10/2021 và 15/10/2021. Cụ thể 06 lần bà V9 tiền mặt cho L7 sau:

  • Lần thứ nhất: Sáng ngày 20/8/2021, Nguyễn Thị Đ6 giọng Hoàng T2 M1gọi điện thoại cho bà V10 dối đã liên hệ được việc xin cho con gái bà V5 làm việc tại Bệnh viện 108 và yêu cầu bà V9 cho Đ20.000.000đ để cảm ơn giám đốc Bệnh viện. Bà V8 mang 20.000.000₫ được đóng vào phong bì thư đưa cho Doãn Thị L
  • Lần thứ hai: Đgiả giọng M1gọi điện thoại cho bà V10 muốn xin cho con vào khoa da liễu của Bệnh viện thì phải đưa 30.000.000₫ để đưa cho Tikhoa. Bà V8 mang 30.000.000₫ được đóng vào phong bì thư mang đến đưa cho Doãn Thị L
  • Lần thứ ba và thứ tư: Đgiả giọng M1gọi điện thoại cho bà V10 phải chuyển người khác đi thì con bà V11 vào Bệnh viện 108 được và yêu cầu bà V9 cho L8 tiền 50.000.000đ để chuyển cho Đ
  • Lần thứ năm: Đgiả giọng M1nói trường hợp xin việc của con bà V12 40.000.000₫ để đưa ra Hội đồng duyệt, bà V8 mang số tiền trên đến gửi Doãn Thị L9 chuyển cho Đ
  • Lần thứ sáu: Đtiếp tục giả giọng M1nói bà V9 30.000.000₫ để xin cho con bà V5 biên chế luôn. Bà V8 mang số tiền trên đến gửi Doãn Thị Lđể L10 cho Đ

Từ ngày 30/10/2021 đến ngày 11/12/2021, Nguyễn Thị Đtiếp t giả danh người có tên là Hoàng Thị M2 điện thoại cho bà Phạm Thị V13 ra nhiều lý do gian dối khác nhau, chiếm đoạt của bà V3 tiền 170.000.000đ, bà V8 chuyển tiền cho Đ7 hình thức đưa tiền mặt và chuyển vào số tài khoản 505100000132717, ngân hàng B tên ĐCụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Ngày 30/10/2021, bà V6 khoản số tiền 10.000.000₫ từ tài khoản 3506215007177, ngân hàng A bà Phạm Thị V1 số tài khoản của Đ
  • Lần thứ hai: Ngày 04/11/2021, bà V14 bạn là chị Nguyễn Thị T3 năm 1978, trú tại tiểu khu C, thị trấn H, huyện H số tiền 20.000.000₫ vào số tài khoản của Đ
  • Lần thứ ba: Ngày 05/11/2021, bà V14 cháu là chị Lê T4 H2sinh năm 1992 trú tại khu phố B, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóachuyển khoản số tiền 30.000.000₫ vào số tài khoản của Đ
  • Lần thứ tư: Ngày 06/11/2021, bà V1 nhà trực tiếp đưa tiền mặt cho Nguyễn Thị Đ9.000.000đ, sau đó chuyển khoản số tiền 11.000.000đ từ tài khoản của bà V15 Đ
  • Lần thứ năm: Ngày 12/11/2021, bà V16 90.000.000đ đến nhà đưa trực tiếp cho Nguyễn Thị Đ

Trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thị Đ8 thừa nhận hành vi phạm tội của mình mà khai nại Hoàng Thị Milà con người cụ thể, có thật, bản thân Đ8 lừa đảo để lấy tiền của bà V

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, xác định:

  • Tại Bệnh viện 108 không có ai tên là Hoàng Thị M1sinh năm 1961, trình độ thạc sỹ;
  • 25 file âm thanh ghi nhận cuộc gọi điện thoại giữa bà Phạm Thị V18 Nguyễn Thị ĐDoãn Thị Lvà người có tên là Hoàng Thị M3 gồm: từ file âm thanh số 01 đến số 13 là file âm thanh ghi cuộc gọi giữa bà Vvới Đ9 file âm thanh số 14 đến số Alà các file âm thanh ghi cuộc gọi giữa bà V18 Lcác file âm thanh từ số 20 đến số B, là các file âm thanh ghi âm cuộc gọi giữa bà V19 người phụ nữ có tên là M1 được Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện H trưng cầu giám định.
  • Tại kết luận giám định số 5681/KL-KTHS, ngày 31/10/2022; công văn số 846/PC09-P6, ngày 05/4/2023; kết luận số 541/KL-KTHS, ngày 15/5/2023 và số 3763/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của VIBộ Cđều kết luận: Tiếng nói của người phụ nữ xưng “cháu” trong file âm thanh "File ghi âm cuộc gọi với Đvà tiếng nói của người phụ nữ xưng “chị” trong file âm thanh "File ghi âm cuộc gọi với Milà của cùng một người; Tiếng nói của người phụ nữ xưng “cháu” trong tệp tin “File ghi âm cuộc gọi với Đngày 16.12.2021 và tiếng nói của Nguyễn Thị Đ10 buổi hỏi cung ngày 20/4/2023 là của cùng một người; Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp tin âm thanh gửi giám định.

Từ những tài liệu, chứng cứ trên, đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Thị Đ11 là người có tên là Hoàng Thị M4 dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 370.000.000đ của bà Phạm Thị V20

Đối với Doãn Thị L11 dù L12 cầm tiền của bà Phạm Thị V21 đưa cho Nguyễn Thị Đ12 nối giữa Đvà bà V22 quá trình điều tra không có căn cứ để xác định Lđồng phạm với Đ13 hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi của L13 thành tội Che giấu tội phạm, được thể hiện như sau: Sau khi biết bà V23 đơn tố cáo hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lvà Đvà sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H lên làm việc, L12 biết rõ Đvà người có tên là Hoàng Thị M5 có hành vi gian dối, lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà V22 do lo sợ bị Công an điều tra, sợ bị xử lý hình sự và sợ nếu Đbị bắt sẽ không có người trả nợ số tiền 800.000.000₫ Đđã vay của Ltrước đó. Mặt khác, do Đ3 điện thoại xúi giục L14 báo gian dối theo hướng: “Nếu bị Công an điều tra thì khai báo L15 biết gì về mối quan hệ giữa M1 và Đkhông biết Đvà M1quen nhau từ trước, toàn bộ số tiền bà V13 cho L9 gửi cho M1thì Lđều gửi qua xe cứu thương ra Hà Nội cho M1chứ không đưa trực tiếp cho Đnên L16 đồng ý nghe theo Đ14 tình khai báo gian dối trước Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H khó khăn, cản trở cho quá trình điều tra, xử lý vụ án.

Sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo kết quả giám định, chứng minh Hoàng Thị M1và Nguyễn Thị Đ15 là một người, biết Đó danh là M1để chiếm đoạt tiền của bà VDoãn Thị L17 thành khẩn khai báo toàn bộ nội dung diễn biến của sự việc.

Đồ vật, tài sản tạm giữ và xử lý như sau:

  • Tạm giữ của Nguyễn Thị Đ16 điện thoại OPPO Reno 7Z, màu bạc, lắp sim 1: 0961.062.138, sim 2: 0354.786.156; 01 hợp đồng chuyển nhượng đất đứng tên người chuyển nhượng là Nguyễn Thị L18; 01 giấy biên nhận tiền mang tên bên bán Nguyễn Thị L18; 03 điện thoại Nokia 230 màu xám, bị hư hỏng ; 01 điện thoại OPPO Reno 6 5CT màu đen, lắp sim: 0947.020.336; 01 điện thoại Joy 2+, không lắp sim; 01 đầu thu nhãn hiệu Jhua, màu đen; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0877.246.568; 01 điện thoại OPPO Reno 4 màu đen, lắp sim 0827.895.729; 01 giấy nhận tiền mang tên Vũ Văn T5; 01 hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng đất mạ, bên nhượng Nguyễn Văn N
  • Tạm giữ của Doãn Thị L19 điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0399.656.230; 01 điện thoại Iphone 6s plus, lắp sim 0398.617.858; Tiền Ngân hàng N185.000.000đ; 01 dây kim loại màu vàng, dạng vòng đeo tay; 14 vòng kim loại màu vàng, dạng nhẫn đeo tay; 01 vòng kim loại màu trắng, dạng vòng đeo tay; 01 giấy vay tiền của Nguyễn Thị Đ

Đối với đồ vật là gấy tờ thu giữ của Nguyễn Thị Đ17 01 hợp đồng chuyển nhượng đất đứng tên người chuyển nhượng là Nguyễn Thị L18; 01 giấy biên nhận tiền mang tên bên bán Nguyễn Thị L20 giấy nhận tiền mang tên Vũ Văn T5; 01 hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng đất mạ, bên nhượng Nguyễn Văn N và thu giữ của Doãn Thị L21 01 giấy vay tiền của Nguyễn Thị Đ18 chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối với các đồ vật, tài sản thu giữ của Nguyễn Thị Đ17: 01 điện thoại OPPO Reno 7Z, màu bạc, lắp sim 1: 0961.062.138, sim 2: 0354.786.156; 03 điện thoại Nokia 230 màu xám, bị hư hỏng; 01 điện thoại OPPO Reno 6 5CT màu đen, lắp sim: 0947.020.336; 01 điện thoại Joy 2+, không lắp sim; 01 đầu thu nhãn hiệu Jhua, màu đen; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0877.246.568; 01 điện thoại OPPO Reno 4 màu đen, lắp sim 0827.895.729, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Đối với các đồ vật, tài sản thu giữ của Doãn Thị L21: 01 điện thoại Iphone 6s plus, lắp sim 0398.617.858; Tiền Ngân hàng N185.000.000đ; 01 dây kim loại màu vàng, dạng vòng đeo tay; 14 vòng kim loại màu vàng, dạng nhẫn đeo tay; 01 vòng kim loại màu trắng, dạng vòng đeo tay không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị Đ17 01 điện thoại OPPO Reno 4 màu đen, lắp sim 0827.895.729 và thu giữ của Doãn Thị L21 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0399.656.230 đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Đối với số tiền 370.000.000₫ mà Nguyễn Thị Đ19 chiếm đoạt của bà Phạm Thị V1 nay Đchưa bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

  • Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm g khoản 1 Điều 52; điểm t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Thị Đ;
  • Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Doãn Thị L
  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589, 351 và 357 của Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; Các điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đức p “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo Doãn Thị L22 tội “Che giấu tội phạm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Đ20 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.

Xử phạt: Bị cáo Doãn Thị L23 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Trừ vào thời gian đã bị tạm giam từ ngày 22/11/2022, đến ngày 06/10/2023. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải bồi thường cho bà Phạm Thị V24 tiền 370.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/02/2024 (trong hạn luật định), bị hại Phạm Thị Vkháng c đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Đ21 tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Xem xét vai trò đồng phạm của bị cáo Doãn Thị L24 bị cáo Đ21 tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm rõ và buộc hai bị cáo Lvà Đ22 chịu trách nhiệm trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Đ23 nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo L25 định bị cáo không phải là đồng phạm với bị cáo Đ24 xét xử về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị cáo không chịu trách nhiệm về số tiền bị cáo Đ25 đoạt của bị hại Phạm Thị V20

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Bị hại Phạm Thị V25 đơn kháng cáo trong thời hạn luật định chấp nhận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Thị V20. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2023/HS-ST ngày 23/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo Doãn Thị L22 tội: “Che giấu tội phạm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Đ20 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.

Xử phạt: Bị cáo Doãn Thị L23 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Trừ vào thời gian đã bị tạm giam từ ngày 22/11/2022, đến ngày 06/10/2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải bồi thường cho bà Phạm Thị V24 tiền 370.000.000₫ (ba trăm bảy mươi triệu đồng).

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị hại Phạm Thị V20 nộp trong thời hạn luật định hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của Nguyễn Thị Đ1 Doãn Thị Ltại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Đ không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với đơn tố cáo, báo cáo sự việc, bản tường trình, lời khai của người bị hại Phạm Thị V26 cứ vào lời khai của bị cáo Doãn Thị L26 khai của những người biết sự việc; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra: Tại

Bệnh viện 108 không có ai tên là Hoàng Thị M6 file âm thanh ghi nhận cuộc gọi điện thoại giữa bà V18 ĐLvà người có tên là H2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trưng cầu giám định; Kết luận giám định số 5681/KL-KTHS, ngày 31/10/2022; công văn số 846/PC09-P6, ngày 05/4/2023; Kết luận số 541/KL-KTHS, ngày 15/5/2023 và số 3763/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của VIBộ CĐủ cơ sở kết luận: Từ tháng tháng 8 năm 2021 đến ngày 11/12/2021, bị cáo Đ19 dùng thủ đoạn gian dối, giả danh mình là Hoàng Thị M1có trình độ Thạc sỹ, làm việc tại Bệnh viện Qđã nghỉ hưu, có khả năng xin được việc làm cho con gái của bà Phạm Thị V21 lừa đảo chiếm đoạt của bà V24 tiền 370.000.000 đồng;

Hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Đ17 rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe nhưng không chịu lao động, làm ăn chân chính dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình đối với quần chúng nhân dân địa phương;

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS.

[2.2] Đối với bị cáo Doãn Thị L27 không có hứa hẹn trước khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng khi bị cáo biết rõ bị cáo Nguyễn Thị Đ26 thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt tại sản của bà Phạm Thị Vbị c1 đã cố tình khai báo gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật, gây khó khăn, cản trở điều tra, giải quyết vụ án nhằm che dấu hành vi phạm tội cho Đ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo L28 yếu tố cấu thành tội “Che giấu tội phạm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 389 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội: “Che giấu tội phạm” của bị cáo Doãn Thị L là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các hoạt động, công việc và quá trình làm việc của cơ quan chức năng cụ thể là cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện các hành vi phạm tội, điều tra lấy cơ sở để định tội và thực hiện các biện pháp xử lý tội phạm. Hành vi của bị cáo Doãn Thị L bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Che dấu tội phạm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 389 BLHS.

[3] Xét kháng cáo của bị hại và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Xét kháng cáo của bị hại Phạm Thị V20 thấy rằng:

+ Đối với kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với Nguyễn Thị Đ27 tính chất mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng TNHS: Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ20 (mười một) năm tù về tội: Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị hại là không có cơ sở chấp nhận.

+ Đối với kháng cáo đề nghị xem xét vai trò đồng phạm của bị cáo Doãn Thị L29 tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2021, biết L1 nhiều khách hàng thường đến nhờ giải hạn, cầu may nên Đlợi dụng mối quan hệ này, giả danh người có tên là Hoàng Thị M1 gọi điện thoại từ số 0378.701.xxx đến số điện thoại của L0399.656.xxx giới thiệu cho L2 quen với người có tên là Misau đó Đó là M1sử dụng số điện thoại 0865.044.xxx gọi cho Liên tự giới thiệu là Hoàng Thị M1sinh năm 1961, là thạc sỹ, làm việc tại Bệnh viện Qđã nghỉ hưu. Sau nhiều lần gọi điện thoại, tâm sự chuyện gia đình, để tạo lòng tin, M1nói với L mình có nhiều mối quan hệ, có khả năng xin được việc làm cho nhiều người trong ngành y, nếu L1 nhu cầu xin việc cho con cháu thì M1giúp. Liên tưởng thật nên khoảng đầu tháng 8/2021, khi bà Phạm Thị V1 nhờ L4 cầu xin việc cho con gái là Nguyễn Thị Lan P tốt nghiệp Đại học Ythì Lđã giới thiệu cho bà V2 M1và cho bà V24 điện thoại của M1Ngày 13/8/2021, Lcung cấp số điện thoại 0362.153.xxx của M1và thông báo cho bà V2 M1đã đồng ý xin việc cho con bà. Chiều cùng ngày, người có tên là M1gọi điện thoại từ số 0362.153.xxx đến số điện thoại 0986.713.xxx của bà V4 giới thiệu là M1và hứa xin được cho con gái bà V5 làm việc tại Bệnh viện Q

Từ ngày 20/8/2021 đến ngày 15/10/2021, M1đã gọi điện đến số điện thoại của bà V19 yêu cầu bà V6 số tiền 200.000.000 đồng để xin việc cho con gái bà V7 chiếm đoạt số tiền này. Bà V8 đưa trực tiếp cho Doãn T1 L06 lần với tổng số tiền là 170.000.000 đồng để L10 trực tiếp cho Nguyễn Thị Đ5 lần còn lại bà V6 trực tiếp vào tài khoản số 505100000132717 của Đtại Ngân hàng Đ30(Bmỗi lần chuyển 10.000.000 đồng vào các ngày 21/9/2021, 12/10/2021 và 15/10/2021.

Mặc dù Llà người giới thiệu M1với bà V19 đã cầm tiền của bà Phạm Thị V21 đưa cho Nguyễn Thị Đ12 nối giữa Đvà bà V22 quá trình điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh Lđồng phạm với Đ21 hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bản thân L15 biết Đgiả danh H3 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tất cả những lần bà V6 tiền đều là M1và Đđã liên lạc và trao đổi với bà V27 điện thoại, từ đó bà V28 tưởng giao tiền cho người tên là M1để nhờ xin việc vào Bệnh viện A1.

Hành vi của bị cáo L13 thành tội: “Che giấu tội phạm”. Bởi vì: Sau khi biết bà V23 đơn tố cáo hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lvà Đvà khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H lên làm việc, L17 biết rõ Đvà người có tên là Hoàng Thị M5 có hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà V22 do lo sợ bị Công an điều tra, sợ bị xử lý hình sự và sợ nếu Đbị bắt sẽ không có người trả nợ số tiền 800.000.000 đồng mà Đ19 vay của L30 đó. Mặt khác, do Đ3 điện thoại xúi giục Lkhai báo gian dối nên L17 đồng ý nghe theo Đ14 tình khai báo gian dối trước Cơ quan cảnh sát điều tra, gây khó khăn, cản trở cho quá trình điều tra, xử lý vụ án.

Cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Doãn Thị L23 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù về tội: “Che giấu tội phạm” theo điểm a khoản 1 Điều 389 BLHS là đúng quy định của pháp luật.

Do đó, kháng cáo của bị hại Phạm Thị V29 không có cơ sở chấp nhận.

+ Đối với kháng cáo đề nghị buộc Nguyễn Thị Đ1 Doãn Thị L31 chịu trách nhiệm trả lại cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt.

Bị cáo Doãn Thị L32 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị V30 đó không phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, bị cáo không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại.

Mặc dù bị hại là bà Phạm Thị V31 báo bị lừa đảo chiếm đoạt số tiền là 2.680.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình điều tra chỉ đủ căn cứ để chứng minh số tiền Nguyễn Thị Đ28 đoạt của bà V29 370.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ29 bồi thường cho bà Phạm Thị V32 đồng là có căn cứ.

Do đó, kháng cáo của bị hại là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Các vấn đề khác:

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Thị V20. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ Điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Thị Đ; Đ1c khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Doãn Thị L; Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589, 351 và 357 của Bộ luật dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; Các điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo Doãn Thị L22 tội: “Che giấu tội phạm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Đ20 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.

Xử phạt: Bị cáo Doãn Thị L23 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Trừ vào thời gian đã bị tạm giam từ ngày 22/11/2022, đến ngày 06/10/2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải bồi thường cho bà Phạm Thị V24 tiền 370.000.000₫ (ba trăm bảy mươi triệu đồng).

2. Về án phí: Bị hại Phạm Thị V20 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Phạm Thị V33 đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền Nguyễn Thị Đ phải bồi thường, nếu Nguyễn Thị Đ không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì Nguyễn Thị Đ phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an H. Hà Trung TH;
  • - TAND, VKSND H. Hà Trung.TH;
  • - Chi cục THA DS H.Hà Trung.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Lê Thị Tố Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: che giấu tội phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger