|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST |
|
|
Ngày 08 - 7- 2024 V/v: Ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân
Bà Nguyễn Hồng Xứng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG, sinh ngày 31/01/1985.
Địa chỉ: Số G Hậu B, khóm C, phường H, thị trấn T, huyện V, Đài Loan.
Địa chỉ tạm trú tại Việt Nam: Khách sạn T, A T, phường B, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn bà Trần Thanh N, sinh ngày 23/10/2003.
Địa chỉ: Số F N, N, G, tỉnh Kiên Giang.
(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG trình bày:
Ông SU, CHUN-HSIANG quen bà Trần Thanh N qua mai mối, sau khi tìm hiểu được một thời gian ngắn hai bên tiến đến hôn nhân. Ông SU, CHUN-HSIANG và bà Trần Thanh N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện G, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68 ngày 13/12/2022.
Sau khi kết hôn, ông S, CHUN-HSIANG về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bảo lãnh bà N sang Đài Loan đoàn tụ, bà N ở lại Việt Nam. Trong quá trình làm thủ tục thì vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại và bắt đầu phát sinh mâu do bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau, vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Tháng 02 năm 2023 ông SU, CHUN-HSIANG có về Việt Nam thăm bà N nhưng vợ chồng ông lại cải nhau nên ông S, CHUN-HSIANG quay về Đài Loan, từ đó vợ chồng ông không còn liên lạc cho đến nay.
Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông khởi kiện ly hôn. Nay ông SU, CHUN-HSIANG yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Về hôn nhân: Cho ông SU, CHUN-HSIANG được ly hôn với bà Trần Thanh N.
- - Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn bà Trần Thanh N:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản cho bà N theo đúng quy định và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc ông SU, CHUN-HSIANG yêu cầu ly hôn để bà Trần Thanh N thực hiện quyền trình bày ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, cũng như thông báo thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án cho bà Trần Thanh N được biết, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm bà Trần Thanh N vẫn vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được ý kiến của bà Trần Thanh N.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Trần Thanh N vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục tống đạt hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG:
Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện ông S, CHUN-HSIANG và bà Trần Thanh N quen biết nhau qua mai mối, hai bên có tình cảm yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68 ngày 13/12/2022. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa ông SU, CHUN-HSIANG và bà Trần Thanh N là hợp pháp.
Ông SU, CHUN-HSIANG xác định, sau khi kết hôn ông SU, CHUN-HSIANG về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bảo lãnh bà N sang Đài Loan đoàn tụ, bà N ở lại Việt Nam. Trong quá trình làm thủ tục thì vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại và bắt đầu phát sinh mâu do bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau, vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Tháng 02 năm 2023 ông SU, CHUN-HSIANG có về Việt Nam thăm bà N nhưng vợ chồng ông lại cải nhau nên ông S, CHUN-HSIANG quay về Đài Loan, từ đó vợ chồng ông không còn liên lạc cho đến nay. Ông SU, CHUN-HSIANG xác định không còn tình cảm và không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà Trần Thanh N.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản theo đúng quy định và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc ông SU, CHUN-HSIANG yêu cầu ly hôn với bà N. Nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm bà Trần Thanh N vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông S, CHUN-HSIANG để Tòa án xem xét.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông SU, CHUN-HSIANG và bà Trần Thanh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông S, CHUN-HSIANG.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông SU, CHUN-HSIANG xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Ông SU, CHUN-HSIANG phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông SU, CHUN-HSIANG.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông SU, CHUN-HSIANG được ly hôn với bà Trần Thanh N.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Ông SU, CHUN-HSIANG phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp, theo biên lai thu tiền số 0001368 ngày 12/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Trần Thanh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông S, CHUN-HSIANG có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S VÀ N
