|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số 72/2024/HS-ST
Ngày 08/7/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Cường, bà Trần Thị Nguyệt.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Thân Thị Hải Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/ HSST- QĐ ngày 24/6/2024 đối với bị cáo: Hoàng Văn T, sinh năm 1996. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
HKTT: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tôn G: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Bố đẻ: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1961. Mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960. Bị caó chưa có vợ và con. Nhân thân, tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Bản án số 53/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản trộm cắp là 9.567.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù 25/3/2020. Hiện T chưa chấp hành tiền án phí và tiền truy thu.
- + Bản án số 24/2021/HS-ST ngày 18/3/2021 Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản trộm cắp 348.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù 04/8/2021.
- + Bản án số 30/2022/HSST ngày 22/4/2022 Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản là 10.195.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2023. Hiện chưa chấp hành xong tiền bồi thường.
Bị caó đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam của Công an tỉnh B (Có mặt).
2. Bị hại: Anh Dương Trọng T2, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 13 giờ ngày 06/01/2024, Hoàng Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi bộ quanh khu vực ngã tư K, thuộc thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì gặp anh Dương Trọng T2, sinh năm 1977 trú tại thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên làm nghề chở xe ôm đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát (BKS) 29-009-U2 đỗ ở rìa đường. T nảy sinh ý định thuê anh T2 chở xe ôm để tìm cơ hội chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh T2 bán lấy tiền chi tiêu cá nhân nên T đến chỗ anh T2 nói “Anh chở em về nhà ở B, em trả anh 70.000 đồng”, anh T2 đồng ý, sau đó T ngồi lên xe rồi chỉ đường cho anh T2. Khi về đến khu vực gần nhà ông Tô Văn X, sinh năm 1957 ở thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì T bảo anh T2 dừng xe lại và năn nỉ hỏi mượn xe anh T2 và nói “Cho em mượn xe đi vào nhà xin tiền thì mẹ em mới tin”. Tin tưởng T anh T2 đồng ý cho T mượn xe điều khiển vào sân nhà ông X và nói chuyện với ông X khoảng 10 phút thì điều khiển xe ra ngoài đường và quay ngược hướng anh T2 đang đứng chờ và điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh T2 thì T điều khiển xe mô tô xuống khu vực thành phố B và bán chiếc xe mô tô cho 1 người đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng, sau đó T bỏ trốn khỏi địa phương và chi tiêu hết số tiền trên. Ngày 12/02/2024, T đến Công an huyện L đầu thú và khai nhận hành vi chiếm đoạt mô tô của anh T2.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Nữ, màu sơn nâu, BKS 29-009-U2, số khung 25404392, số máy 1203302 là 15.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định truy tìm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Nữ, màu sơn nâu, BKS 29-009-U2, số khung 25404392, số máy 1203302, nhưng không tìm thấy. Đối với người thanh niên mua xe mô tô, T khai không quen biết và không biết nhân thân lý lịch người này ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Trọng T2 yêu cầu Hoàng Văn T phải bồi thường cho anh số tiền 15.000.000 đồng.
Về vật chứng: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 023253 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 64/CT- VKS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố Hoàng Văn T về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng hơn 13 giờ ngày 06/01/2024, tại khu vực trước cổng nhà ông Tô Văn X, sinh năm 1957 ở thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn T dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Nữ, màu sơn nâu, BKS 29-009-U2 của anh T2. Bị cáo đồng ý kết luận định giá xe 15.000.000 đồng và đồng ý bồi thường ông T2 trị giá xe 15.000.000 đồng. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thường xuyên.
Bị hại là anh Dương Trọng T2 tại Cơ quan điều tra trình bày: Khoảng hơn 13 giờ ngày 06/01/2024, tại khu vực trước cổng nhà ông Tô Văn X, sinh năm 1957 ở thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn T dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Nữ, màu sơn nâu, BKS 29-009-U2 của anh T2. Nay anh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã luận tội và đề nghị kết tội: Hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; do vậy vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú”, quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo T từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có nghề nghiệp, thu nhập.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường anh Dương Trọng T2 15.000.000 đồng.
Ngoài ra còn đề nghị về vật chứng và án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa vắng mặt Bị hại, tuy nhiên anh T2 đã có lời khai và yêu cầu bồi thường tại các tài liệu trong hồ sơ vụ án nên việc xét xử vắng mặt Bị hại không ảnh hưởng việc giải quyết vụ án.
[2]. Về căn cứ xác định cấu thành tội phạm: Khoảng hơn 13 giờ ngày 06/01/2024, Hoàng Văn T là người có tiền án, tái phạm chưa được xóa án tích đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Nữ, màu sơn nâu, BKS 29-009-U2, số khung 25404392, số máy 1203302, có trị giá 15.000.000 đồng của anh Dương Trọng T2. Do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú ” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thường xuyên.
[3]. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường anh Dương Trọng T2 15.000.000 đồng.
[4]. Vật chứng: Trả lại anh T2 01 (một) 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 023253
Án phí: Bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. .
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 292, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584 và 589, 468 Bộ luật dân sự: Bị cáo T phải bồi thường anh Dương Trọng T2 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
4. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại anh T2 01 (một) 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 023253 vật chứng vụ án.
5. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trung chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. .
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 tương ứng với số tiền gốc và thời gian chưa thi hành án. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA (Ký tên) |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
