TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 08-7-2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang;
Ông Đoàn Minh Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST–HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Minh K, sinh năm 2005 tại Bạc Liêu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Cà T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20/11/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Phạm Minh L, sinh năm 2003 tại Kiên Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn K1 và bà Phạm Thị T1; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/11/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Lê Minh K2, sinh năm 1999 tại Kiên Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Lê Hồng T2 và bà Trần Thị Đ; có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/11/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Minh K, Phạm Minh L và Lê Minh K2 có mối quan hệ bạn bè xã hội quen biết do ở gần và hay gặp nhau tại nhà trọ T3 thuộc khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Trong thời gian quen biết, có nói chuyện với nhau nên K, L và K2 đều biết nhau có sử dụng ma túy đá bằng hình thức hút. L và K thỏa thuận khi nào có bạn bè của L cần mua ma túy thì sẽ báo lại cho K biết để K chuẩn bị ma túy để L đi bán ma túy cho các con nghiện để kiếm lời thì K đồng ý. Vào chiều ngày 19/11/2023, Phạm Minh L đang ở phòng trọ cùng Lê Minh K2 thì một người bạn quen biết qua mạng xã hội Facebook tên “Tino Tang” liên lạc hỏi tìm chỗ mua dùm 700.000 đồng ma tuý và nhờ L đem lên khu vực ngã ba T sẽ được cho 100.000 đồng tiền công thì L đồng ý. Sau đó, L đến phòng của Phạm Minh K nói việc mua ma túy cho bạn của L thì K đồng ý. K điều khiển xe mô tô biển số 94D1-128.60 xuống khu vực nghĩa địa gần đường M - T (gần ngã tư Sở S) gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 400.000 đồng được một gói ma tuý đựng trong túi nilon. Sau khi mua được ma túy, K đem về phòng trọ của mình phân ra làm hai phần gồm một phần ma tuý lớn và một phần ma tuý nhỏ. Phần ma tuý lớn đựng trong gói nilon hàn kín K đưa K2 để đem đi bán với giá 700.000 đồng. Còn phần ma tuý nhỏ K chừa lại cho L, K2 sau khi đi bán về sử dụng coi như trả công. Sau khi nhận ma túy từ K, K2 cầm gói ma túy này đưa lại cho L giữ và mượn xe mô tô biển số 94D1-128.60 của K chở L đến đoạn đường quốc lộ 13 thuộc khu vực ngã ba T thuộc ấp C, xã L, huyện B đợi bạn của L đến thực hiện việc mua bán ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an xã L tuần tra phát hiện L và K2 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Khi thấy có lực lượng Công an, L dùng tay phải ném gói ma tuý đang cầm xuống gốc cây tràm cách chỗ dừng xe khoảng 01m thì bị phát hiện, thu giữ. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, K2 đồng thời phối hợp Cơ quan CSĐT Công an huyện B thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Minh K.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 gói ma túy đựng trong gói nilon hàn kín;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 94D1-128.60 do Phạm Minh K đứng tên chủ sở hữu;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng số seri: 49f39b32 thu của Phạm Minh L.
- 01 hộp quẹt gas màu trắng; 01 kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 nắp chai màu đen đục hai lỗ; 01 ống hút màu trắng thu của Phạm Minh K.
Ngày 20/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số: 181/QĐ, trưng cầu Phòng K3 - Công an tỉnh B giám định thành phần và trọng lượng chất tinh thể màu trắng đã thu giữ trong vụ án.
Ngày 29/11/2023, Phòng K3 - Công an tỉnh B ra kết luận giám định số: 606/KL-KTHS(MT), kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,3551 gam. Hoàn trả ma túy có khối lượng: 0,2782 gam.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Minh K và đối tượng có Facebook tên “Tino Tang”, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số 51/CT-VKSBB ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo Phạm Minh K, Phạm Minh L, Lê Minh K2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh K mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh L mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh K2 mức hình phạt từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số: 636/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 181/QĐ-KTMT ngày 20/11/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lê Minh K2, Phạm Minh L (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng  (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,2782 gam ma túy loại Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 hộp quẹt gas màu trắng (đã qua sử dụng); 01 kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 nắp chai màu đen đục hai lỗ; 01 ống hút màu trắng (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 94D1-128.60, sơn màu xanh trắng; dung tích xi lanh 134 cm³, sản xuất năm 2013, số máy: 55P1230519, số khung: RLCE55P10DY230506, chủ sở hữu là Phạm Minh K (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng, số seri: 49f39b32 (đã qua sử dụng) là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, Phạm Minh K mua ma túy của đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi đưa ma túy cho Phạm Minh L và Lê Minh K2 đến Quốc lộ A thuộc khu vực ngã ba T thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương bán cho đối tượng có tên F là “Tino Tang” với giá 700.000 đồng. Khi Phạm Minh L và Lê Minh K2 đang chờ bán ma túy thì bị bắt quả tang. Số lượng ma túy các bị cáo bán, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3551 gam. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vây, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nha nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn do vậy Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Phạm Minh K có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số: 636/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 181/QĐ-KTMT ngày 20/11/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lê Minh K2, Phạm Minh L (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng  (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,2782 gam ma túy loại Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 hộp quẹt gas màu trắng (đã qua sử dụng); 01 kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 nắp chai màu đen đục hai lỗ; 01 ống hút màu trắng (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 94D1-128.60, sơn màu xanh trắng; dung tích xi lanh 134 cm³, sản xuất năm 2013, số máy: 55P1230519, số khung: RLCE55P10DY230506, chủ sở hữu là Phạm Minh K (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng, số seri: 49f39b32 (đã qua sử dụng) là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Minh K;
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Minh L, Lê Minh K2;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh K, Phạm Minh L, Lê Minh K2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Lê Minh K2 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
- Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số: 636/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 181/QĐ-KTMT ngày 20/11/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lê Minh K2, Phạm Minh L (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng  (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,2782 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 hộp quẹt gas màu trắng (đã qua sử dụng); 01 kéo kim loại đã qua sử dụng; 01 nắp chai màu đen đục hai lỗ; 01 ống hút màu trắng (đã qua sử dụng).
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 94D1-128.60, sơn màu xanh trắng; dung tích xi lanh 134 cm³, sản xuất năm 2013, số máy: 55P1230519, số khung: RLCE55P10DY230506, chủ sở hữu là Phạm Minh K (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng, số seri: 49f39b32 (đã qua sử dụng).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện B – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).
- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
