Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ RIỀNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 72/2024/HSST

Ngày: 07/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải

Ông Hồ Viết Trung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức D, sinh năm 2005 tại Bình Phước; HKTT và chỗ ở: Thôn 4, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1981 và bà Huỳnh Thị Ngọc L, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay, “có mặt tại phiên tòa”.
  2. Họ và tên: Lê Công H (Tên gọi khác: Bin), sinh năm 1999 tại Bình Phước; HKTT: Thôn Ag, xã C, huyện R, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Thôn Thuận Thành 2, xã A, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 6/12;

Con ông Lê Văn C, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Thanh L, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay, “có mặt tại phiên tòa”.

  1. Họ và tên: Phạm Sỹ M(Tên gọi khác: Lu), sinh năm 2001 tại Bình Phước; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Sỹ Hóa, sinh năm 1965 và bà Đào Thị Lãi, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay, “có mặt tại phiên tòa”.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn 4, xã A, huyện C, tỉnh Bình Phước

*Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2008 (Đại diện hợp pháp của Nguyễn Văn Q: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983) (Vắng mặt)
  2. Trú tại: Thôn Phú Thịnh, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

  3. Ông Gian D, sinh năm 2006 (Vắng mặt)
  4. Trú tại: Khóm 5, phường 5, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng

  5. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 2001 (Vắng mặt)
  6. Trú tại: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 18/11/2023, Nguyễn Đức D điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đỏ đen, BKS: 93B1-20559 đi từ nhà của mình ở thôn 4, xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đến nhà của Nguyễn Văn Q, sinh năm 2008, trú tại thôn Phú Thịnh, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước chơi. Tại đây, D gặp Phạm Sỹ M, Lê Công H, Nguyễn Văn Q, Gian D, sinh năm 2006, trú tại: 218b, khóm 5, phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Nguyễn Văn B (tên gọi khác Linh) và 01 người tên Minh (không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc ngồi chơi, do D có nhu cầu sử ma túy nên D đưa cho H 200.000 đồng và nói H biết chỗ nào có bán ma tuý mua về sử dụng rồi D đi vào phòng chơi game với Quang. Lúc này, H hỏi mượn điện thoại của Mạnh để gọi điện thoại hỏi mua ma tuý thì Mạnh nói để Mạnh gọi điện hỏi mua ma tuý giúp cho. Sau đó,

Mạnh dùng điện thoại của mình gọi điện thoại cho Lê Phương (tên thường gọi Tý Phương), sinh năm 1985, trú tại: thôn Phú Cường, xã Phú Riềng hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì Phương đồng ý và hẹn giao ma tuý tại nhà của Quang. Một lúc sau, Phương điều khiển xe mô tô đến cổng nhà của Quang rồi H và Mạnh ra gặp Phương. Phương đưa cho Mạnh 01 gói nylon chứa ma tuý, H đưa cho Phương 200.000 đồng.

Sau khi mua được ma tuý, H và Mạnh cầm đi vào phòng ăn của nhà Quang thì thấy trên bàn ăn có một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế. Lúc này, Mạnh dùng tay mở miệng khóa miết gói ma tuý ra rồi đổ một ít ma túy vào trong nỏ thủy tinh và dùng bật lửa đốt cho ma tuý chảy ra, số ma túy còn lại Mạnh để trên cửa sổ phòng khách. Sau đó, D, H, Mạnh, Bo và Quang cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện trên bàn tại phòng ăn của nhà Quang có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế bên trong nỏ thủy tinh đang còn bám dính chất màu trắng và trên thành cửa sổ phòng khách có 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá. Do đó, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, H, Mạnh và Quang. Đồng thời thu giữ những vật chứng sau:

  • 01 nỏ thủy tinh dài 12 cm, một đầu uốn cong, đầu uốn cong phình to hình cầu dài 04cm, bên trong đầu uốn cong bám dính các tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá;
  • 01 gói nylon được hàn kín, kích thước (02x02)cm, hàn kín ba mặt, một mặt kéo khóa bên trong gói chứa các tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp dạng đá;
  • 01 xe mô tô nhân hiệu Exciter, màu đen-đỏ, BKS: 93B1-205.59;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 thường màu hồng;
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 chai nước hiệu Sting, nắp chai màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nước màu xanh, trắng dài 30cm, một lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh;
  • 01 bật lửa gas hiệu Hoa Việt.
  • 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng, cán bọc nhựa màu trắng đỏ.

Tại Cơ quan điều tra, D, H và Mạnh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Bản Kết luận giám định số: 1148/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:

  • Chất màu nâu – trắng (ký hiệu M) bám dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0058 gam.
  • Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0941gam.

- Kèm theo kết luận giám định: Không

- Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu sử dụng hết cho giám định

*Tại Bản cáo trạng số 60/CTr-VKS ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức D, Lê Công H, Phạm Sỹ Mphạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù

Xử phạt bị cáo Lê Công H mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù

Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Mmức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án và về án phí hình sự.

*Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiện hiện trường, vật chứng của vụ án, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 18/11/2023, các bị cáo Nguyễn Đức D, Lê Công H và Phạm Sỹ Mđã có hành vi cùng nhau mua 200.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine của đối tượng tên Tý Phương (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhằm mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo Phạm Sỹ Mbỏ 01 ít ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi sử dụng cùng với các bị cáo Nguyễn Đức D, Lê Công H và các đối tượng Ngô Văn Bo, Nguyễn Văn Q (sinh năm 2008) thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định theo Điều 255 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo phạm tội “Đối với 02 người trở lên” và “ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” nên phải chịu tình tiết định khung theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về mua bán, cất giữ chất ma túy. Các bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về tác hại của hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy sẽ gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người và là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xử lý nghiêm trước pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo HĐXX xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với Nguyễn Văn Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do Quang (sinh năm 2008) chưa đủ 18 tuổi (dưới 16 tuổi) nên Công an huyện Phú Riềng đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Quang là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.

Đối với Ngô Văn Bo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Công an huyện Phú Riềng tách ra để lập hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không đề cập xử lý trong vụ án này nên HĐXX không xem xét.

Đối với Gian D và Minh (không rõ nhân thân, lai lịch) không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên HĐXX không xem xét.

Đối với đối tượng Tý Phương (tên gọi khác Lê Phương) là người bán ma túy cho Mạnh (theo lời khai của Mạnh và H), qua điều tra và đối chất thì Phương không thừa nhận mình là người bán ma túy cho Mạnh mà chỉ có lời khai duy nhất của Mạnh và H khai rằng Phương là người bán ma túy cho Mạnh. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã Lệnh thu giữ điện tín và có văn bản đề nghị Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel chi nhánh tỉnh Bình Phước cung cấp thông tin của chủ thuê bao và thông tin các cuộc gọi đến, gọi đi của số điện thoại 0337.455.xxx nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở để xử lý đối với Phương về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Mạnh do đó Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau nên HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô nhân hiệu Exciter, màu đen-đỏ; Biển số: 93B1-205.59 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đức Hải (là cha của Nguyễn Đức D), sinh năm 1981, HKTT: Thôn 4, xã Đắk Ơ, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Xét thấy, xe mô tô không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 08/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Hải là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 thường màu hồng là tài sản của bị cáo Phạm Sỹ M, Mạnh sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước

Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 chai nước hiệu Sting, nắp chai màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nước màu xanh, trắng dài 30cm, một lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh dài 12 cm, một đầu uốn cong, đầu uốn cong phình to hình cầu dài 04cm, bên trong đầu uốn cong; 01 bật lửa gas hiệu Hoa Việt; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng, cán bọc nhựa màu trắng đỏ là vật chứng của vụ án nền cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ một phần nên được HĐXX chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, áp dụng pháp luật và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D, Lê Công H (Tên gọi khác: Bin), Phạm Sỹ M(Tên gọi khác: Lu) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công H (Tên gọi khác: Bin) 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Sỹ M(Tên gọi khác: Lu) 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu vào Ngân sách nhà nước Iphone 12 thường màu hồng của Phạm Sỹ M

- Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 chai nước hiệu Sting, nắp chai màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nước màu xanh, trắng dài 30cm, một lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh dài 12 cm, một đầu uốn cong, đầu uốn cong phình to hình cầu dài 04cm, bên trong đầu uốn cong; 01 bật lửa gas hiệu Hoa Việt; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng, cán bọc nhựa màu trắng đỏ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức D, Lê Công H (Tên gọi khác: Bin), Phạm Sỹ M(Tên gọi khác: Lu) mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Phú Riềng;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Riềng;
  • - CA huyện Phú Riềng;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger