|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2023/DS-PT Ngày: 06/12/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Dịu và ông Trần Hữu Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Bà Huỳnh Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 69/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B).
Địa chỉ: Tháp BIDV S T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trình Kiên T1, Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh N. (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 963/QĐ-BIDV ngày 25-10-2021).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn C (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 355/QĐ-BIDV.NT ngày 08/8/2023), (Có mặt).
Địa chỉ: Số A Đường B, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Thiên T2, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố G, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Thiên T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/3/2020, ông Trần Thiên T2 có ký với Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ (Viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số S57601/2020/HĐTD với số tiền vay là 170.000.000 đồng, mục đích vay: kinh doanh nông sản; thời hạn vay 84 tháng; ngày giải ngân: 12/3/2020, ngày đáo hạn: 12/3/2027; lãi suất áp dụng từ khi ký Hợp đồng tín dụng đến ngày 30/6/2020 là 11,5%/năm, từ ngày 01/7/2020 áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 02 lần/năm vào các ngày 01/01, 01/7 theo Thông báo của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh và bằng lãi suất tiết kiệm trả sau 24 tháng + phí tối thiểu 4,5%/năm. Bên vay trả nợ gốc, lãi số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ. Thời điểm vay tiền của Ngân hàng thì ông Trần Thiên T2 là kiểm lâm viên Chi cục kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tỉnh N nên đã đồng ý cho Ngân hàng trích nợ tài khoản số 615-10-00-043615-6 tại Ngân hàng của ông T2 để thu nợ hàng tháng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, sau khi giải ngân số tiền 170.000.000 đồng, từ tháng 04/2020 đến tháng 12/2021, ông T2 trả đều hàng tháng 3.000.000 đồng. Đến tháng 01/2022, ông T2 nghỉ việc tại Chi cục kiểm lâm và nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Từ tháng 4/2020 đến tháng 8/2022, ông T2 đã trả được tiền gốc: 44.303.726 đồng, tiền lãi: 39.696.274 đồng. Từ tháng 09/2022, ông T2 không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng nên ngày 26/10/2022, toàn nộ dư nợ vay của ông T2 đã chuyển sang nợ quá hạn, cụ thể nợ gốc: là 125.696.274 đồng, nợ lãi 3.210.937 đồng. Tính đến ngày 25/7/2023, ông T2 còn nợ Ngân hàng số tiền 140.254.657 đồng (trong đó: nợ gốc: 125.696.274 đồng, nợ lãi: 14.558.383 đồng).
Do ông T2 vi phạm Hợp đồng tín dụng số S57601/2020/HĐTD ngày 10/3/2020 đã ký kết với Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 phải trả toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng tính đến ngày 25/7/2023 là 140.254.657 đồng (trong đó: nợ gốc: 125.696.274 đồng, nợ lãi: 14.558.383 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 26/7/2023 cho đến khi trả xong nợ vay.
Quá trình tố tụng Bị đơn ông Trần Thiên T2 trình bày:
Ngày 10/3/2020, ông có ký với Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ Hợp đồng tín dụng số S57601/2020/HĐTD cụ thể: Số tiền vay là 170.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay 84 tháng. Ông đã thực hiện trả tiền đúng định kỳ, phương thức đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đến ngày 04/8/2022. Nay ông đồng ý tiếp tục trả hết tiền nợ cho Ngân hàng nhưng theo đúng thời hạn vay là 84 tháng, ông chưa xác định được phương thức trả hàng tháng hay một lần do ông đang kiếm việc khi nào có tiền ông sẽ trả cho Ngân hàng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 418; 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc ông Trần Thiên T2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tổng cộng là 140.254.657 đồng (Một trăm bốn mươi triệu hai trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi bảy đồng).Trong đó: nợ gốc: 125.696.274 đồng, nợ lãi: 14.558.383 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, bị đơn ông Trần Thiên T2 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm vì đánh giá chứng cứ không khách quan, khoản nợ vay chưa hết thời hạn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Bị đơn ông Trần Thiên T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới nên kháng cáo không được chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền, phạm vi giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T là đúng quy định theo khoản 3 điều 26, điều 35, điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Thiên T2, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng tín dụng số S57601/2020/HĐTD ngày 10/3/2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và ông Trần Thiên T2 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định về nội dung và hình thức. Sau khi ký hợp đồng, ông T2 đã nhận đủ số tiền vay là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng). Lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 468 và Điều 418 của Bộ luật Dân sự.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông T2 có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ (thời hạn vay 84 tháng) nhưng tính đến ngày 04/8/2022, ông T2 chỉ trả được số tiền 84.000.000 đồng (Trong đó: số tiền gốc đã trả là 44.303.726 đồng, số tiền lãi đã trả là 39.696.274 đồng). Kề từ tháng 9/2022 ông T2 không trả bất cứ khoản nào cho Ngân hàng, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, ông T2 đã vi phạm thỏa thuận mà các bên đã ký kết nên ngày 26/10/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của ông T2 sang nợ quá hạn là phù hợp với điều 4 Hợp đồng tín dụng S57601/2020/HĐTD.
Quá trình tố tụng, ông T2 đề nghị được trả nợ khi đến hạn 84 tháng nhưng chưa xác định phương thức trả nợ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 140.254.657 đồng (trong đó: nợ gốc 125.696.274 đồng, nợ lãi: 14.558.383 đồng) là phù hợp với hợp đồng tín dụng, bảng kê chi tiết trả nợ gốc, lãi và đồng thời phù hợp tại các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.
[3] Về án phí:
-Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Thiên T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng đối với số tiền thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn 140.254.657 đồng. Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp.
-Án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Trần Thiên T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 353, Điều 357, Điều 463, Điều 468, Điều 469 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015Khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Thiên T2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với bị đơn ông Trần Thiên T2 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc ông Trần Thiên T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 140.254.657 đồng (Một trăm bốn mươi triệu hai trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó: nợ gốc 125.696.274 đồng, nợ lãi 14.558.383 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/7/2023), ông Trần Thiên T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số S57601/2020/HĐTD ngày 10/3/2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông Trần Thiên T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Thiên T2 phải chịu 7.013.000 đồng (Bảy triệu không trăm mười ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.223.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi ba ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004816 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận.
-Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Thiên T2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005717 ngày 22/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06/12/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 72/2023/DS-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 72/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP B - Trần Thiên T
