|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 06 – 11 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thương.
Bà Lê Thị Kiều Hương.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thanh T (Tên gọi khác: B), sinh năm 1988 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: Thôn F, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1990, có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 3287 ngày 23/02/2022, Công an huyện Đ xử phạm vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với Nguyễn Thanh T về hành vi đánh bạc.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
-
Mai Xuân V, sinh năm 1994 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Xuân K và bà Nguyễn Thị S; Gia đình có 04 anh em (01 người đã chết), bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Tại Quyết định số 194/QĐ-TA ngày 08/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc đối với Mai Xuân V trong thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 30/6/2022.
Nhân thân: Tại bản án số: 05/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 bị Tòa án quân sự khu vực quân khu G xử phạt 1 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2024.
Bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2024. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Trần Thanh K1, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 3 năm 2023, Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V được ông Trần Thanh K1 thuê đến nhà cẩu cây cảnh ở thôn F, xã Đ. Trong lúc cẩu cây cảnh Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V thấy tại nhà ông Trần Thanh K1 có nhiều cây mai vàng nên nảy sinh ý định trộm mai bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 18 giờ ngày 28/3/2023, Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V điều khiển xe mô tô chạy đến khu vực nhà ông Trần Thanh K1 quan sát rồi về nhà Nguyễn Thanh T ở xã S, huyện Đ đợi. Khoảng 01 giờ ngày 29/3/2023, Mai Xuân V và Nguyễn Thanh T mang theo 01 cây xà beng và 01 con dao, đi xe mô tô đến nhà ông Trần Thanh K1, lúc này gia đình ông Trần Thanh K1 đang ngủ. Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V dựng xe bên ngoài, đi vào trong sân nhà đào 02 cây mai lên. Sau đó, Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V lấy một xe lôi có sẵn tại nhà ông Trần Thanh K1 khiêng bỏ 01 cây mai lên xe lôi kéo ra ngoài, lúc Trần Thanh T1 và Mai Xuân V đẩy xe lôi có cây mai ra ngoài thì gia đình ông Trần Thanh K1 phát hiện truy hô nên Nguyễn Thanh T và Mai Xuân V bỏ lại 02 cây mai, lên xe mô tô chạy về nhà Nguyễn Thanh T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 02/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ kết luận giá trị 02 cây mai vàng Mai Xuân V, Nguyễn Thanh T trộm cắp của ông Trần Thanh K1 là 29.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 20/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ kết luận giá trị 01 xe lôi Mai Xuân V, Nguyễn Thanh T trộm cắp của ông Trần Thanh K1 là 800.000 đồng.
Tổng tài sản Mai Xuân V, Nguyễn Thanh T chiếm đoạt của Trần Thanh K1 là 29.800.000 đồng (Hai mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng)
Quá trình điều tra: Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Bị hại Trần Thanh K1 đã nhận lại tài sản, đã được bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường 2.000.000 đồng nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm. Ông có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 66/CT-VKSÐL-HS ngày 24/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- - Về hình phạt:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 9 tháng đến 1 năm tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mai Xuân V mức án từ 1 năm 3 tháng đến 1 năm 6 tháng tù.
- - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường 2.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên không buộc các bị cáo phải bồi thường.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
-
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo; biên bản sự việc; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản xác định hiện trường; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
- [2.1] Về hành vi phạm tội:
- [2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
- [2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Không.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo V có bà nội là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu.
- [2.4] Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V cùng thống nhất thực hiện tội phạm, chuẩn bị công cụ, phương tiện nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn, bị cáo V sau khi phạm tội lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên mức án đối với bị cáo V là cao hơn.
- [2.5] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.
- [2.6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
- [3] Về xử lý vật chứng: 02 cây mai vàng và 01 xe lôi là tài sản của ông Trần Thanh K1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho ông Trần Thanh K1 là phù hợp.
- [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường 2.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.
- [5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
- [6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/3/2023, Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V đã lén lút vào sân nhà của ông Trần Thanh K1 ở thôn F, xã Đ, huyện Đ trộm cắp 02 cây mai vàng và 01 xe lôi. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 29.800.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Mai Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mai Xuân V 1 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 21/10/2024.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T, Mai Xuân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 06/11/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
6
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T và đồng phạm "Trộm cắp tài sản"
