Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST

Ngày 04/12/2023

“V/v ly hôn; chia tài sản chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Bà Đặng Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 7 năm 2022, về “Ly hôn, chia tài sản chung”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn Tùng, sinh năm 1972. Có mặt

Địa chỉ: Ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Tùng về chia tài sản chung là: Bà Phan Thị Hồng Xuyến, sinh năm 1997. Địa chỉ: số 254 đường Nguyễn Trung Trực, Khu Phố 5, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, Kiên Giang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

  • - Luật sư Đào Quốc Việt – Công ty Luật TNHH Kim Long. Vắng mặt.
  • - Luật sư Huỳnh Tấn Dũng – Công ty Luật TNHH Kim Long. Vắng mặt.

Địa chỉ: số 254 đường Nguyễn Trung Trực, Khu Phố 5, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, Kiên Giang.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Kim Hồng, sinh năm 1972. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 22/6/2022 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Phan Văn Tùng trình bày:

Vào năm 1990 tôi và bà Đinh Thị Kim Hồng tự nguyện yêu thương nhau, có tổ chức lễ cưới giữa hai bên gia đình, và đăng ký kết hôn trễ hạn ngày 13/11/2002 tại UBND xã Cửa Dương. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc và sinh được 02 người con là Phan Thị Hồng Nhung, sinh năm 1990 và Phan Kim Nhãn, sinh năm 1992. Từ khoảng tháng 6/2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã nhau, bà Hồng xúc phạm đến cha mẹ tôi, nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nay tôi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  • Về hôn nhân: Tôi yêu cầu được ly hôn với bà Hồng.
  • Về con chung: Tôi và bà Hồng có 02 người con chung là Phan Thị Hồng Nhung, sinh ngày 07/11/1990 và Phan Kim Nhãn, sinh ngày 08/10/1992. Các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tạo dựng được các tài sản chung gồm:
  • 01 căn nhà có diện tích xây dựng khoảng 200m² cất năm 2013, chưa đăng ký quyền sở hữu, loại nhà cấp 4, mái ngói, nền lát gạch men, được xây dựng trên thửa đất số 60, tờ bản đồ 39 (Nằm trên thửa đất cha mẹ cho riêng tôi), giá trị căn nhà tạm tính là 500.000.000 đồng.
  • 01 chiếc xe ô tô 07 chỗ, biển kiểm soát 68A – 12221, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe Phan Văn Tùng, trị giá khoảng 500.000.000đồng.

Tôi đồng ý chia đôi tài sản chung này và đồng ý nhận hiện vật và hoàn trả lại 50% giá trị căn nhà và chiếc xe cho bà Hồng, tương đương 500.000.000đồng. Trong trường hợp Tòa án tiến hành định giá giá trị căn nhà và chiếc xe, khi có kết quả định giá, yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia theo kết quả định giá.

Đối với thửa đất theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BL232417, thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 39, diện tích 4.643,9m²; tọa lạc tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, do UBND thành phố Phú Quốc cấp ngày 07/11/2012, đã chỉnh lý sang tên tôi ngày 08/4/2014 là tài sản riêng của tôi, nguồn gốc do cha mẹ ruột là ông Phan Văn Hưng, bà Tống Thị Mỹ Ngọc cho riêng tôi trong thời kỳ hôn nhân với bà Hồng, không yêu cầu giải quyết đối với tài sản riêng này.

  • Về nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Đinh Thị Kim Hồng trình bày:

Tôi và ông Phan Văn Tùng là vợ chồng, đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cửa Dương ngày 13/11/2002. Trong thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Phan Thị Hồng Nhung, sinh ngày 07/11/1990 và Phan Kim Nhãn, sinh ngày 08/10/1992. Quá trình chung sống với nhau thì tôi không có bất cứ sai lầm nào với ông Tùng từ khi cưới nhau cho tới nay.

Nay ông Tùng khởi kiện yêu cầu ly hôn với tôi thì tôi không đồng ý ly hôn với ông Tùng. Vì tôi không có lỗi gì với ông Tùng, cũng không làm gì có lỗi với gia đình ông Tùng, nguyên nhân vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay là vào năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ông Tùng đã hành hung đánh đập tôi và đuổi tôi ra khỏi nhà không cho sống chung.

Về con chung thì các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi không có yêu cầu phản tố về việc phân chia tài sản chung, đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên đối với tài sản chung tôi có ý kiến như sau:

Thứ nhất: Về chiếc xe ô tô 07 chỗ, biển kiểm soát 68A – 12221, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe Phan Văn Tùng nguồn gốc số tiền để mua xe là tiền vay số tiền 600.000.000 đồng của bà Lê Thị Thái (đã chết năm 2016 – không có chồng con), nhưng do là vợ chồng chung sống cùng nhà nên giữ tôi và ông Tùng không có làm biên nhận vay tiền hay giao nhận tiền và cũng không có người làm chứng. Số tiền 600.000.000 đồng này là do bà Thái trước khi chết có gửi lại cho tôi giữ giùm để xây nhà từ đường thờ phụng bà Thái, nên chiếc xe ô tô 07 chỗ, biển kiểm soát 68A – 12221, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA không phải là tài sản chung của 02 vợ chồng.

Thứ hai: Về căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 4.643,9m²; thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tôi không đồng ý với ý kiến của ông Tùng về việc chia cho tôi giá trị căn nhà tương đương 250.000.000 đồng.

Thứ ba: Đối với thửa đất theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BL232417, thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 39, diện tích 4.643,9m² tọa lạc tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, do UBND thành phố Phú Quốc cấp ngày 07/11/2012 chỉnh lý sang tên ông Phan Văn Tùng ngày 08/4/2014. Tôi không đồng ý với ý kiến của ông Tùng, mặc dù biết là nguồn gốc đất có từ thời của bà Ngoại ông Tùng, sau đó cho lại cha mẹ ông Tùng và cha mẹ ông Tùng cho lại ông Tùng vào năm 2014. Thời điểm lập giấy tờ tặng cho thì việc cho riêng ông Tùng hay cho chung cả hai vợ chồng tôi thì tôi không xác định được. Tuy nhiên vợ chồng tôi đã sống trên đất từ năm 1990 cho đến nay.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2022 tôi có khai trong quá trình chung sống vợ chồng làm ra được các tài sản gồm: 01 chiếc xe máy hiệu Simba, 01 chiếc xe máy hiệu Chaly, 01 chiếc xe máy hiệu SH, 01 chiếc xe đạp thể thao, 01 vườn sầu riêng 40 gốc, 01 tấn tiêu cội nhưng ông Tùng không thừa nhận và tôi không yêu cầu Tòa án xem xét phân chia đối với những tài sản nêu trên trong vụ án này.

Ngoài ra tại biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2022 tôi có khai: Tiền mặt cho bà Út Hiền mượn 100.000.000 đồng, cho người quen là Tăng Kim Mui mượn 50.000.000 đồng; vợ chồng có mượn của bà Lê Thị Thái số tiền 130.000.000 đồng để làm hàng ba và 20.000.000 đồng để làm tủ thờ trong gia đình; nhưng việc kê khai này không có chứng cứ chứng minh và ông Tùng không thừa nhận và tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với số tiền nêu trên trong vụ án này.

3. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc phát biểu quan điểm:

* Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách các đương sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Thời hạn xét xử vụ án đã quá hạn luật định, nhưng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

* Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Tùng. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Phan Văn Tùng được ly hôn với bà Đinh Thị Kim Hồng. Về tài sản chung: Giao cho ông Phan Văn Tùng được quyền sở hữu căn nhà tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Giao cho ông Phan Văn Tùng được quyền sở hữu xe ô tô, nhãn hiệu: TOYOTA; số loại: INNOVA; loại xe: Ô tô con; biển số đăng ký 68A-122.21. Ông Phan Văn Tùng có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đinh Thị Kim Hồng 50% trị giá căn nhà và 50% trị giá xe ô tô với tổng số tiền là 572.151.976 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Đinh Thị Kim Hồng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do; luật sư Đào Quốc Việt và luật sư Huỳnh Tấn Dũng có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt luật sư Việt và luật sư Dũng. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà Hồng, luật sư Việt và luật sư Dũng.

[2]. Về nội dung vụ án:

2.1. Về hôn nhân: Ông Phan Văn Tùng và bà Đinh Thị Kim Hồng chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1990, đến ngày 13/11/2002 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Cửa Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do ông Tùng và bà Hồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm không còn hạnh phúc, từ tháng 6 năm 2019 đến nay ông Tùng và bà Hồng không còn sống chung với nhau. Ông Tùng yêu cầu được ly hôn với bà Hồng, nhưng bà Hồng không đồng ý. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Tùng và bà Hồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Tùng về việc được ly hôn với bà Hồng.

2.2. Về con chung: Ông Tùng và bà Hồng có 02 người con chung là Phan Thị Hồng Nhung, sinh ngày 07/11/1990 và Phan Kim Nhãn, sinh ngày 08/10/1992. Tất cả đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết.

2.3. Về nợ chung: Ông Tùng xác định không có nợ chung. Bà Hồng xác định có cho bà Út Hiền mượn 100.000.000 đồng, cho người quen là Tăng Kim Mui mượn 50.000.000 đồng; vợ chồng có mượn của bà Lê Thị Thái (đã chết, không có chồng con là dì ruột của bà Hồng) số tiền 130.000.000 đồng để làm hàng ba và 20.000.000 đồng để làm tủ thờ trong gia đình; nhưng việc kê khai này không có chứng cứ chứng minh và ông Tùng không thừa nhận nên bà Hồng không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với số tiền nêu trên trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp thì khởi kiện vụ án dân sự khác.

2.4. Về tài sản chung:

- Ông Tùng xác định quá trình chung sống vợ chồng có tạo dựng được 01 căn nhà có diện tích xây dựng khoảng 200m² cất năm 2013, chưa đăng ký quyền sở hữu, loại nhà cấp 4, mái ngói, nền lát gạch men, được xây dựng trên thửa đất số 60, tờ bản đồ 39 do ông Tùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo chứng thư định số số 02/2023/CT-TS-TVAP ngày 07/9/2023 của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Thẩm định giá Sao Việt thì căn nhà gồm 03 phần: Nhà chính 123,425m², Nhà sau 51,72m², Mái che 90m², tổng trị giá là 607.303.952 đồng. Ông Tùng yêu cầu được nhận căn nhà và hoàn trả 50% trị giá căn nhà theo kết quả định giá cho bà Hồng. Bà Hồng không đồng ý với yêu cầu của ông Tùng và đề nghị phân chia theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu của ông Tùng là phù hợp với quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, hiện nay căn nhà nằm trên diện tích đất do ông Tùng đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử giao căn nhà nêu trên cho ông Tùng được quyền sở hữu, ông Tùng có nghĩa vụ hoàn trả 50% trị giá căn nhà theo kết quả định giá tài sản cho bà Hồng như sau: 607.303.952 đồng x 50% = 303.651.976 đồng.

- Ông Tùng xác định quá trình chung sống vợ chồng có tạo dựng được 01 chiếc xe ô tô 07 chỗ, biển kiểm soát 68A – 122.21, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe Phan Văn Tùng. Theo chứng thư định số số 02/2023/CT-TS-TVAP ngày 07/9/2023 của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Thẩm định giá Sao Việt thì xe ô tô có trị giá 537.000.000 đồng. Ông Tùng yêu cầu được nhận xe ô tô và hoàn trả 50% trị giá xe theo kết quả định giá tài sản cho bà Hồng. Bà Hồng không đồng ý với yêu cầu của ông Tùng với lý do nguồn gốc số tiền để mua xe là tiền vay số tiền 600.000.000 đồng của bà Lê Thị Thái (đã chết năm 2016, không có chồng con), do bà Thái trước khi chết có gửi lại cho bà Hồng giữ giùm để xây nhà từ đường thờ phụng bà Thái nên chiếc xe ô tô này không phải là tài sản chung của 2 vợ chồng. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà Hồng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về nguồn gốc số tiền và việc vay tiền mua xe này nên không có căn cứ để xem xét, nếu sau này bà Hồng hoặc những người thừa kế của bà Lê Thị Thái có yêu cầu hoàn trả số tiền vay này thì khởi kiện vụ án dân sự khác. Căn cứ Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho ông Tùng được quyền sở hữu xe ô tô nêu trên, ông Tùng có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hồng 50% trị giá xe ô tô theo kết quả định giá tài sản như sau: 537.000.000 đồng x 50% = 268.500.000 đồng.

- Đối với thửa đất theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BL 232417, thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 39, diện tích 4.643,9m²; tọa lạc tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, do UBND thành phố Phú Quốc cấp ngày 07/11/2012, đã chỉnh lý sang tên cho ông Tùng ngày 08/4/2014. Ông Tùng xác định là tài sản riêng của ông Tùng, nguồn gốc do cha mẹ ruột là ông Phan Văn Hưng, bà Tống Thị Mỹ Ngọc cho riêng ông Tùng trong thời kỳ hôn nhân nên không yêu cầu Toà án giải quyết đối với thửa đất này. Ông Phan Văn Hưng và bà Tống Thị Mỹ Ngọc cũng xác nhận tặng cho riêng ông Tùng thửa đất này, không phải tặng cho chung vợ chồng ông Tùng, bà Hồng. Bà Hồng không đồng ý với ý kiến của ông Tùng, Toà án đã có thông báo về quyền làm đơn yêu cầu phản tố của bà Hồng, tại các phiên hoà giải Thẩm phán cũng đã giải thích về quyền yêu cầu phản tố, nhưng bà Hồng không đồng ý làm đơn phản tố, nên trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu sau này bà Hồng có yêu cầu thì khởi kiện vụ án dân sự khác.

Theo Tờ trích đo địa chính đang tranh chấp số TĐ 1434-2022 ngày 23/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc thì thửa số 60, tờ bản đồ số 39, diện tích 4.643,9m² có sai lệch về vị trí sử dụng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Do các đương sự không có yêu cầu Toà án giải quyết đối với diện tích đất này, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này có tranh chấp thì khởi kiện vụ án dân sự khác.

Về các tài sản khác: Bà Hồng xác định vợ chồng có tài sản chung gồm: 01 chiếc xe máy hiệu Simba, 01 chiếc xe máy hiệu Chaly, 01 chiếc xe máy hiệu SH, 01 chiếc xe đạp thể thao, 01 vườn sầu riêng 40 gốc, 01 tấn tiêu cội. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Tùng và bà Hồng đều không yêu cầu Tòa án xem xét phân chia đối với các tài sản này, nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì khởi kiện vụ án dân sự khác.

[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Ông Phan Văn Tùng tự nguyện chịu toàn bộ chi phí và đã nộp đủ, nên không xem xét.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phan Văn Tùng phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với phần trị giá tài sản được phân chia là: 303.651.976 đồng + 268.500.000 đồng = 572.151.976 đồng, thành tiền án phí là 26.886.079 đồng.

- Bà Đinh Thị Kim Hồng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần trị giá tài sản được phân chia là: 303.651.976 đồng + 268.500.000 đồng = 572.151.976 đồng, thành tiền án phí là 26.886.079 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147; 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 9; 56; 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Tùng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Văn Tùng được ly hôn với bà Đinh Thị Kim Hồng.

2. Về tài sản chung:

- Giao cho ông Phan Văn Tùng được quyền sở hữu căn nhà có kết cấu: Nhà chính 123,425m², Nhà sau 51,72m², Mái che 90m²; tại ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Theo Tờ trích đo địa chính số 1434-2022 ngày 23/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc thì căn nhà gồm các điểm số 16, 15, 14, 13, 12, 11, 10, 9, 8, 7.

- Giao cho ông Phan Văn Tùng được quyền sở hữu xe ô tô, nhãn hiệu: TOYOTA; số loại: INNOVA; loại xe: Ô tô con; số máy: 1TRA576139, số khung: 3EM8K3362810; biển số đăng ký 68A-122.21; theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 024268 ngày 25/02/2019 của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Kiên Giang.

- Ông Phan Văn Tùng có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đinh Thị Kim Hồng 50% trị giá căn nhà và 50% trị giá xe ô tô với tổng số tiền là 572.151.976 đồng (Năm trăm bảy mươi hai triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi sáu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật dân sự theo Điều 357 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa trả.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phan Văn Tùng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 26.886.079 đồng (Hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, bảy mươi chín đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông Tùng đã nộp là 12.300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007625 ngày 23/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. Ông Tùng còn phải nộp thêm là 14.886.079 đồng (Mười bốn triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, bảy mươi chín đồng).

- Bà Đinh Thị Kim Hồng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 26.886.079 đồng (Hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, bảy mươi chín đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tp PQ;
  • - Chi cục Thi hành án DS tp PQ;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Võ Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn; chia tài sản chung

  • Số bản án: 72/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HON VA CHIA TAI SAN CHUNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger