Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 03/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Yến;

Ông Trần Hùng Bích.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Chí V, sinh năm 2000, tại huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Tổ 14, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh C và bà Nguyễn Thị Ánh M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 03 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, Tổ đặc nhiệm Công an tỉnh A (Tổ đặc nhiệm) tuần tra đảm bảo an ninh trật tự và trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường U, thuộc khóm Đ, phường Đ, thành phố L phát hiện Phan Chí V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 67C1-653.78 chở Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn, nên Tổ đặc nhiệm tiến hành dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái của V có 01 bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ, bên trong có 02 viên nén màu xám và 01 bọc nylon có rãnh kẹp viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn là ma tuý. V khai là ma túy do V mua để sử dụng, nên Tổ đặc nhiệm giao V cho Công an phường Đ lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 (một) bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ, bên trong có 02 viên nén màu xám và 01 (một) bọc nylon có rãnh kẹp viền màu xanh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn là ma tuý; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu xám, màn hình cảm ứng, gắn sim số 0839.399.986 và 0942.449.382 đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 67C1-653.78.

* Căn cứ Kết luận giám định số 223/KL-KTHS ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A, ghi nhận: 01 (một) phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đ, Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ và tên: Lê Hoàng T1, Phan Chí V, Nguyễn Văn T, bên trong có: 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ, đựng:

  • - 01 (một) bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền xanh chứa tinh thể màu trắng, khối lượng: 1,8062 (một phẩy tám không sáu hai) gam, (ký hiệu M1).
  • - 02 (hai) viên nén màu xám hình oval, khối lượng: 0,9115 (không phẩy chín một một năm) gam, (ký hiệu M2).

Mẫu M1 gửi đến giám định là ma tuý, loại: Ketamine, có khối lượng 1,8062 (một phẩy tám không sáu hai) gam.

Mẫu M2 gửi đến giám định là ma tuý, loại: MDMA, có khối lượng 0,9115 (không phẩy chín một một năm) gam.

Ngày 17/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố Vững, để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Phan Chí V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
  • - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử.
  • * Về trách nhiệm hình sự, đề nghị: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Chí V từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành.

Giao trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu S, màu xám, màn hình cảm ứng, gắn sim số 0839.399.986 và 0942.449.382.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, tại khu vực đường U, thuộc khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, với trọng lượng 1,8062g loại Ketamine và 0,9115g loại MDMA.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, vì không có tiền án, tiền sự nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, có nhân thân tốt. Tuy nhiên, về tính chất của vụ án là nghiêm trọng nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không nghề nghiệp ổn định, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị cáo cho rằng, lượng ma túy bị cáo mua để sử dụng do người tên V1 bán và V1 là người tổ chức cho bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng 15 giờ ngày 08/02/2024, tại quán bar không rõ tên ở Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo V thì không còn chứng cứ nào khác và không rõ nhân thân của người tên V1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau là phù hợp theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn T được bị cáo V chở đi cùng trên xe mô tô biển số 67C1-653.78 khi bị phát hiện phạm tội quả tang vào ngày 09/02/2024, nhưng T không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, nên trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm là phù hợp theo quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 phong bì được niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. Xét tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.

Đối với điện thoại di động hiệu S là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội và bị cáo yêu cầu nhận lại. Xét giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S cùng sim số kèm theo.

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả 01 xe mô tô biển số 67C1-635.78 cho chủ sở hữu hợp pháp (bà Nguyễn Thị Ánh M) là phù với với quy định pháp luật, nên không đề cập xử lý lại.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Phan Chí V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Xử phạt: Phan Chí Vững 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/02/2024).

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định.

    Giao trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu S cùng sim số kèm theo.

    (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Phan Chí V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 03 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, Tổ đặc nhiệm Công an tỉnh An Giang (Tổ đặc nhiệm) tuần tra đảm bảo an ninh trật tự và trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường Ung Văn Khiêm, thuộc khóm Đông Thành, phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên phát hiện Phan Chí Vững điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 67C1-653.78 chở Nguyễn Văn Thuận có biểu hiện nghi vấn, nên Tổ đặc nhiệm tiến hành dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái của Vững có 01 bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ, bên trong có 02 viên nén màu xám và 01 bọc nylon có rãnh kẹp viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn là ma tuý. Vững khai là ma túy do Vững mua để sử dụng, nên Tổ đặc nhiệm giao Vững cho Công an phường Đông Xuyên lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger