Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 72/2024/HSST

Ngày: 02/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Long Văn Thanh
  2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Văn H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 05/6/1991 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12 phổ thông; Con ông: Triệu Văn B, sinh năm 1968 (đã chết); Con bà: Hà Thị H1, sinh năm 1968, đều trú tại xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 04 chị em; Vợ: Khoảng Thị L, sinh năm 1993, trú tại xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Băng (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 02/01/2024 đến nay. Có mặt.

Người bào chữa: Bà Linh Thị A – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Triệu Thị H2, sinh năm 1989; Trú tại: xóm K, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng). Vắng mặt có lí do.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 02/01/2024, Triệu Văn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-37993 đến khu vực bến xe khách cũ thành phố C (tổ B, phường S, thành phố C) để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, tại đây H gặp và hỏi mua 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) Heroine với một người đàn ông không quen biết, giống người nghiện, người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho H 01 (một) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy, loại Heroine. Mua được H3, H đang đi tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C phát hiện Triệu Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (vào hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (H khai nhận là H4) được Triệu Văn H tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay phải.
  • + 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, điện thoại hỏng, không sử dụng được.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-37993, xe cũ đã qua sử dụng.

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiến hành cân xác định khối lượng và gửi giám định và niêm phong lại: Khối lượng chất bột màu trắng là 0,12g (không phẩy mười hai gam). Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 12 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Hành vi của Triệu Văn H đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTP ngày 19/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Triệu Văn H về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với biên bản cân xác định khối lượng và Kết luận giám định số ma tuý bị thu giữ. Bị cáo không có khiếu nại đối với hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Vật chứng bị thu giữ bị cáo không có ý kiến gì.

2

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Triệu Thị H2 có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến đã nhận lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-37993, xe cũ đã qua sử dụng và không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Triệu Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Triệu Văn H với mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bị niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Số 81/KL- KTHS. H5 lại mẫu vụ Triệu Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/01/2024”. Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, điện thoại hỏng, không sử dụng được, không còn giá trị.

Về trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết sau: bị cáo tàng trữ ma tuý ít 0,12g, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính nuôi hai con nhỏ. Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, trình độ văn hoá 7/12 phổ thông nên việc nhận thức của bị cáo hạn chế. Do đó, đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo đã hỏng, không còn giá trị, bị cáo không có yêu cầu lấy lại nên đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên đề nghị cho bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

3

Ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng: Không nhất trí đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn đi làm có thu nhập lo cho gia đình. Do cho chưa quy định cụ thể về việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 10 phút ngày 02/01/2024 tại khu vực tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Triệu Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Triệu Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo

4

trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có sử dụng ma tuý.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ văn hoá 7/12 nên ảnh hưởng đến nhận thức của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo là lao động tự do có thu nhập, đã lập gia đình và hiện đang nuôi 02 con nhỏ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo làm việc tại thành phố C nơi trung tâm kinh tế xã hội phát triển. Bản thân bị cáo nhận thức về tác hại ma tuý nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian dài, không có ý thức cải tạo bản thân nên không có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, trọng lượng ma tuý tàng trữ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Bị cáo sử dụng ma tuý thời gian dài nhưng không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bị niêm phong, mặt trước phong bì ghi “SỐ 81/KL- KTHS. H5 lại mẫu vụ Triệu Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép

5

chất ma túy, bắt ngày 02/01/2024”. Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, điện thoại hỏng, không sử dụng được.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-37993, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Triệu Văn H. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe là Triệu Thị H2 là chị gái của H. Ngày 02/01/2024, H mượn xe mô tô của H2 để đi có việc riêng, H2 không biết việc H sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Triệu Thị H2 không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, H khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực tổ B cũ thuộc tổ B, phường S, thành phố C, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Các ý kiến còn lại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Triệu Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/01/2024.

  3. Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

6

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bị niêm phong, mặt trước phong bì ghi “SỐ 81/KL- KTHS. H5 lại mẫu vụ Triệu Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/01/2024”. Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, điện thoại hỏng, không sử dụng được.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 94 ngày 02/4/2024.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị H2 không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Bị cáo Triệu Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Băng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Hanh

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HSST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: triệu Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger