Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN TỊNH

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01-8-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn và nghĩa vụ trả nợ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thượng Trọng Ký

Các Hội thẩm nhân dân.

1- Ông Nguyễn Thanh Hải;

2- ông Lữ Xuân Ánh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Tín- là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh tỉnh Quảng Ngãi

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ trả nợ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2024 và Thông báo chuyển ngày xét xử ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1985.

2- Bị đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm 1984;

Đều có địa chỉ: Đ, thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng N (A)

Địa chỉ: B L, P. T, Quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng Giám Đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang T; Chức vụ: Giám Đốc Ngân hàng N Chi nhánh huyện S- Phòng G

Chị Lê Thị C có mặt, ông Lê Quang T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn S vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31- 07- 2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10/10/2023 trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị C trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị C và Trần Văn S là hôn nhân hợp pháp tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 30/7/2012.

Quá trình sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Bích H và Trần Thị Bích L, thời gian từ năm 2012 đến năm 2019 vợ chồng sống hạnh phúc, cùng nhau chăm lo cho con cái xây dựng cuộc sống hôn nhân.

Đến cuối năm 2019 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là chồng Trần Văn S chơi cờ bạc, bỏ bê vợ con, tụ tập với bạn bè chơi bời không quan tâm gì đến gia đình và các con. Tuy nhiên, nhiều lần để hàn gắn cuộc sống hôn nhân và mong muốn cùng nhau nuôi dạy các con nên người nhưng anh S vẫn không nghe và tỏ ra bất cần.

Suốt từ năm 2020 đến nay một mình chị C chăm lo cho các con và trả khoản nợ vay của Ngân hàng. Nhiều lần cảm thấy cuộc sống hôn nhân không thể nếu kéo được, mâu thuẫn trầm trọng, không có tiếng nói chung, vợ chồng không còn tình cảm. Đến thời điểm này vợ chồng không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn với anh Trần Văn S.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung.

  1. Trần Thị Bích H, sinh ngày 04/6/2013;
  2. Trần Thị Bích L, sinh ngày 03/01/2017;

Hiện nay các con đang ở cùng với chị C tại đội 9, thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đều do chị C chăm lo, vì vậy khi giải quyết ly hôn yêu cầu được trực tiếp nuôi các con. Không yêu cầu anh Trần Văn S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung, nợ chung, cho người khác vay mượn:

  1. Tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Cho người khác vay mượn: Không có
  3. Nợ chung: Vợ chồng có ký hợp đồng tín dụng số 4512 – LAV -2022 tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện S – Phòng G1 để vay số tiền là 100.000.000 đ (một trăm triệu đồng). Khoản vay này được đảm bảo tài sản theo Nghị định 55/2015/NĐ – CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ. Và Ngân hàng giữ hộ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DE048195 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 27/4/2022 đây là tài sản chung của vợ chồng.

Đến thời điểm xét xử, vợ chồng đã tất toán xong khoản nợ nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Văn S không đến Tòa án cũng không có văn bản bản trình bày ý kiến của mình.

Ngân hàng N có yêu cầu độc lập trình bày: Ngân hàng buộc chị Lê Thị C và anh Trần Văn S có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4512 – LAV - 2022 ngày 05/5/2022 cho Ngân hàng với tổng sối tiền tạm tính đến ngày 26/7/2024 là 76.830.822 đồng, trong đó: Nợ gốc: 75.000.000 đồng; Nợ lãi: 1.830.822đồng. Và chị Lê Thị C và anh Trần Văn S còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi trả xong khoản nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4512 – LAV -2022 ngày 05/5/2022.

Ngày 30/7/2024 Đại diện hợp pháp của Ngân hàng N dã có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ của anh Trần Văn S và chị Lê Thị C đã vay theo đồng tín dụng số 4512 – LAV -2022 tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện S – Phòng G1), vì chị C và anh S đã tất toán xong khoản nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ trả nợ”. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có mặt tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Văn S được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị C và anh S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 30/7/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị C có yêu cầu ly hôn, Toà án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị C, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị C và anh S sống không hợp nhau, có nhiều mâu thuẫn, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình được và hiện nay vợ chồng đã ly thân, phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập nhiều lần để giải quyết, nhưng anh S vẫn không đến Tòa án để giải quyết việc hôn nhân giữa chị C với anh S, chứng tỏ anh S không tha thiết gì đối với cuộc sống chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Xét thấy chị C và anh S có 02 con chung là Trần Thị Bích H, sinh ngày 04/6/2013 và Trần Thị Bích L, sinh ngày 03/01/2017, hiện chị C đang nuôi dưỡng. Khi Ly hôn theo nguyễn vọng của các con và yêu cầu của chị C nên giao 02 con cho chị C được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng cho con là phù hợp với các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

[6] Về nợ chung:

  • - Ngân hàng N đã có văn bản rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập.
  • - Chị C khai đến nay không còn nợ ai, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Chị Lê Thị C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm phần ly hôn.
  • - Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C đối với anh Trần Văn S.

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị C được ly hôn với anh Trần Văn S.
  2. Về con chung: Giao con Trần Thị Bích H, sinh ngày 04/6/2013 và Trần Thị Bích L, sinh ngày 03/01/2017 cho chị Lê Thị C được tiếp tục trực tiếp nuôi con. Anh Trần Văn S không cấp dưỡng cho con.
  3. Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của một bên, cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

    Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về tài sản chung: Chị C trình bày không yêu cầu nên không giải quyết.
  5. Về nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng N buộc anh Trần Văn S và chị Lê Thị C thanh toán số tiền nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 1.830.822 đồng. Tổng Cộng: 76.830.822 đồng.
  6. Về án phí:
    • - Chị Lê Thị C nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm phần ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000526 ngày 01-11-2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
    • - Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.258.815 đồng cho Ngân hàng N theo biên lai thu số 0000539 ngày 30-11-2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
  7. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng các trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Sơn Tịnh,
  • tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Tịnh,
  • tỉnh Quảng Ngãi;
  • - UBND xã Tịnh Giang, huyện Sơn Tịnh,
  • tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Án văn; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thượng Trọng Ký

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng các trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải – Lữ Xuân Ánh

Thượng Trọng Ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ trả nợ

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ trả nợ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị C được ly hôn anh S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger