|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH Bản án số: 72/2025/HSST Ngày 27 - 11 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Bình, ông Trần Đức Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình: Tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2025/TLST - HS ngày 05/11/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 71/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với:
-
Bị cáo: Lưu Quốc Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1991, nơi ĐKHKTT: Xóm G, nhà máy Z, xã N, tỉnh Tuyên Quang, nơi ở hiện nay: Tổ dân phố số D, phường D, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chay; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lưu Kim H và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2018. Tiền án:
- - Ngày 30/06/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 01/09/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 47/2021/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 năm 09 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/08/2023. Nhân thân: Ngày 14/04/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/02/2021, bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản; Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 09/08/2025 đến ngày 18/08/2025 chuyển sang tạm giam tại Trại tạm giam Công an số 02, Công an tỉnh N, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Bùi Tuấn H2, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/8/2025, Đ thuê xe ôm đến khu vực thôn C - C, xã B để tìm mua ma túy của người đàn ông tên D về sử dụng (D là bạn nghiện ma túy, Đ đã từng mua ma túy của D về sử dụng). Khi đến khu vực Thôn C - C, xã B, Đ xuống đi bộ, một đoạn thì gặp D. Gặp nhau Đ hỏi D “Để cho anh một triệu” (ý Đ bảo D bán cho Đ một triệu Heroin), thì D trả lời: “Ừ”, Đ lấy 02 (hai) tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 500.000 đồng đưa cho D, sau khi cầm tiền D đưa lại cho Đ 02 (hai) gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng Đông biết bên trong có chứa Heroin nên không mở ra xem mà cầm gói Heroin đó trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về. Đến khoảng 19 giờ 25 phút, khi đi được khoảng 100 mét, thì Đ gặp lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an đã phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ 02 (hai) gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, Lưu Quốc Đ đã thành khẩn khai nhận đó là 02 (hai) gói ma túy loại Heroin của Đ vừa mua về cất giữ để sử dụng.
Vật chứng, tài sản bị thu giữ, tạm giữ gồm: 02 (hai) gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.
Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Quốc Đ tại tổ dân phố số D, phường D, tỉnh Ninh Bình, nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 15/08/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,414g (Không phẩy bốn trăm mười bốn gam), loại: Heroine (H).
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Quá trình điều tra xác định Đ mua của người đàn ông tên D ở khu vực C, xã B, tỉnh Ninh Bình có đặc điểm cao khoảng 1m65, dáng người gầy, khoảng gần 30 tuổi (Đông biết trước đó nhưng Đ không biết địa chỉ nhà của D ở đâu). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát camera an ninh và xác minh đối tượng tên D có đặc điểm như trên tại khu vực thôn C C - xã B, tỉnh Ninh Bình, kết quả rà soát xác định khu vực trên không có camera an ninh và không xác định được người nào tên D có đặc điểm như trên. Ngoài lời khai của Lưu Quốc Đ thì không có tài liệu nào khác xác minh về người đàn ông tên D đã bán ma túy cho Đ nên không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
Cáo trạng số 16/CT - VKS - MT ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố bị cáo Lưu Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên một phần quan điểm truy tố theo Cáo Trạng số 16/CT-VKS - MT ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, đề nghị HĐXX căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lưu Quốc Đ mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Rút một phần Cáo trạng truy tố bị cáo Lưu Quốc Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo.
Bị cáo nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên nên không có ý kiến tranh luận mà đề nghị HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn nhận tội. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; kết luận điều tra; cáo trạng truy tố bị cáo cùng tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 25 phút ngày 09/8/2025, tại đoạn đường bê tông thuộc Thôn C C - xã B, tỉnh Ninh Bình; Tổ công tác của Công an tỉnh N phối hợp cùng Công an xã B tuần tra, phát hiện, bắt quả tang Lưu Quốc Đ đang cất giữ trái phép 0,414 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Quốc Đ gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Cáo trạng số 16/CT - VKS - MT ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam; ...
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu đã bị xử phạt hành chính và xét xử nhiều lần nhưng mới được ra trại một thời gian ngắn thì lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo đã bị đưa đi cải tạo nhưng vẫn chưa có ý thức chấp hành pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội vì vậy trong vụ án này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
-
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, nhân thân rất xấu nên cần phải ấn định mức hình phạt phù hợp và cách ly khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã rút một phần Cáo trạng truy tố đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Thấy rằng bị cáo không nghề nghiệp ổn định, mua ma túy để xử dụng cho bản thân nên Viện kiểm sát rút một phần Cáo trạng không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lưu Quốc Đ là phù hợp được HĐXX chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 433/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”: Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu tiêu hủy.
- Về các tình tiết khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lưu Quốc Đ, do chỉ có duy nhất lời khai của Đ nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N không có căn cứ để xác minh, làm rõ là có cơ sở.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội:
- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Lưu Quốc Đ 04 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 09/08/2025.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 433/KTHS, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”, mặt sau phong bì có ba dấu giáp lai của phòng K - Công an tỉnh N (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng thi hành án Dân sự khu vực 6 - Ninh Bình ngày 06/11/2025).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lưu Quốc Đ phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Hương |
Bản án số 72/2025/HSST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Quốc Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
