|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 72/2025/HSPT Ngày: 30/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.
Ông Hoàng Trí Thức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2025/HSPT ngày 12/5/2025 đối với bị cáo Trần Như O và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Như O, sinh năm 1971 tại Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Trần T, sinh năm: không rõ và bà Hoàng Thị S, sinh năm 1953; vợ: Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1982 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2003;
Tiền sự: không;
Tiền án: ngày 12/11/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 29/02/2022 thì chấp hành xong hình phạt chính. Chưa được xóa án tích;
Nhân thân:
Ngày 14/4/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 25/01/2006 thì chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.
Ngày 10/7/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 06/02/2011 thì chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024 thì được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang bị cáo đang tại ngoại tại ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
2. Lâm Quang A, sinh năm 1982 tại Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Lâm Quang P (đã chết) và bà Ngô Thị N, sinh năm 1939; vợ: Nguyễn Thị Hoài Đ, sinh năm 1989, con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023;
Tiền sự: không; Tiền án: không;
Nhân thân: ngày 27/8/2021, bị cáo bị Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 15/3/2024 thì được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang bị cáo đang tại ngoại tại khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
3. Nguyễn Quang T1, sinh năm 1986 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1954; vợ Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1983, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021;
Tiền sự: không; tiền án: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 15/3/2024 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang bị can đang tại ngoại tại ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
4. Phan Văn S1, sinh năm 1983 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ nhôm kính; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Phan Văn S2 (đã chết) và bà Mai Thị P1 (đã chết); vợ: Tống Hồ Thị Thùy T3, sinh năm 1985, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021;
Tiền sự: không; tiền án: không;
Nhân thân: Ngày 07/6/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, đến ngày 20/02/2017 thì chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.
Ngày 19/3/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc”. Đến ngày 19/9/2020 thì chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024 thì được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang bị cáo đang tại ngoại tại ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn S1: Luật sư Đặng Thái H - Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 22/02/2024, Nguyễn Văn T4, Bùi Thanh G, Huỳnh Trung N1, Lâm Quang A, Phạm T5, Đặng Minh L1, Trần Như O, Trần Bảo A1, Đỗ Đức T6 đến nhà Phan Văn S1 ở ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chơi. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Văn S1, Nguyễn Văn T4 và Bùi Thanh G rủ nhau tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền, thu tiền xâu rồi chia nhau tiêu xài; cả nhóm đồng ý. Sau đó, S1 phân công Trần Đức T7 (cháu của S1) là người dọn dẹp chai nước trong sòng bạc (sau khi các con bạc sử dụng) và hứa sẽ cho T7 300.000 đồng; T7 đồng ý. Sáng chuẩn bị 01 bộ bài tây, 01 cái chén màu đỏ, 01 cái đĩa sứ màu trắng, 01 cái mền màu đỏ rồi đưa cho G bộ bài tây 52 lá để G cắt quân vị. S1 dẫn cả nhóm qua nhà bà Trần Thị H1 (chị dâu của S1, không có ai ở nhà) và tổ chức cho mọi người đánh bạc ở phía sau bếp nhà bà H1. Trong sòng bạc, G trực tiếp xóc dĩa, T4 cân đối tiền đặt cược hai bên, giúp 2 bên chung chi tiền thắng thua bạc và thu tiền xâu. S1 đi ra ngoài để cảnh giới và lâu lâu sẽ ghé vào sòng để lấy tiền xâu từ T4.
Hình thức chơi đánh bạc là xóc dĩa chẵn lẻ thắng thua bằng tiền, không có người cầm cái. Quy ước chơi: sau khi G xóc dĩa, người tham gia đánh bạc mỗi người đặt cược từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng mỗi ván hoặc thấp hơn tùy khả năng của mỗi người (không ai quy định cụ thể mức cược), tỷ lệ thắng thua 1:1. Khi T4 cân đối tiền cược của 02 bên chẵn lẻ bằng nhau thì G mở ra, nếu ra lẻ (03 mặt trắng, 01 mặt đen hoặc 03 mặt đen, 01 mặt trắng) thì bên lẻ thắng và lấy tiền từ bên chẵn chung qua và ngược lại.
Quy ước thu tiền xâu như sau: khi người xóc mở ra ba đồng đen thì 1.000.000 đồng trên sòng sẽ thu 50.000 đồng tiền xâu. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Lê Viết T8 cũng đến nhà S1 chơi. Khi đến nơi, T8 ngồi uống nước nói chuyện với S1 ở sân nhà
ông S1 một lúc thì nghe tiếng nhiều người nói chuyện phía sau nhà bà H1. Lúc này, S1 nói với T8 mọi người đang tụ tập đánh bạc. Nghe vậy, T8 cũng vào xem. Do G đang bị sốt, thấy mệt nên nhờ T8 xóc giùm thì T8 đồng ý và vào xóc thay G, còn G ra võng nhà ông S1 nằm nghỉ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Quang T1, Mai Xuân T9 (sinh năm: 1985, trú tại: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Nguyễn Văn T10 (sinh năm: 1985, trú tại: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cũng đến nhà S1 chơi. Khi thấy nhà bà H1 có đánh bạc, Nguyễn Quang T1 cũng vào tham gia. Trong lúc mọi người đang chơi đánh bạc thì H1 về nhìn thấy nên nói S1 nghỉ nhưng S1 và các con bạc xin chơi thêm chút nữa nên H1 không nói gì thêm. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang chơi đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm:
T11 trên chiếu bạc số tiền 52.900.000 đồng và các dụng cụ đánh bạc gồm: 01 (một) đĩa sứ màu trắng. 01 (một) cái chén nhựa màu đỏ. 04 (bốn) con vị được cắt ra từ bộ bài tây 52 lá. 01 (bốn) chiếc mền màu đỏ, hình hoa văn kích thước 1,95 x 2,1m. 01 (một) bộ bấm vị bằng nhựa màu xanh.
Thu trên người của những người tham gia đánh bạc gồm:
Phan Văn S1 số tiền 1.050.000đ và 01 điện thoại di động Iphone 10, màu vàng.
Nguyễn Quang T1 01 xe ô tô hiệu Toyota, loại Altis, màu trắng, biển số 72A.38986 và số tiền 31.900.000 đồng.
Huỳnh Trung N1 số tiền 1.1000.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Dream, màu nâu, biển số: 72C1- 04947.
Phạm Tý số tiền 500.000 đồng. Nguyễn Văn T10 số tiền 8.000.000 đồng. Trần Như O số tiền 28.500.000 đồng.
Bùi Thanh G 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, biển số 71F1 – 39995 và số tiền 1.250.000 đồng.
Mai Xuân T9 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH, màu đỏ, biển số: 72F1- 71123 và số tiền 1.000.000 đồng.
Lê Hùng Ú số tiền 420.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định vai trò, số người và số tiền tham gia đánh bạc của từng người như sau:
Phan Văn S1 là người chuẩn bị địa điểm, dụng cụ đánh bạc và cảnh giới. Không tham gia đặt cược.
Bùi Thanh G là người cắt quân vị, trực tiếp xóc dĩa cho các con bạc tham gia đánh bạc. Giàu không tham gia đặt cược.
Nguyễn Văn T4 là người cân đối tiền cược tại sòng, thu tiền xâu và giúp 02 bên đặt cược chung chi trong quá trình chơi. T4 thu được 03 lần tiền xâu với số tiền 500.000 đồng và để lại trên chiếu bạc. T4 không tham gia đặt cược.
Trần Đức T7 là người phụ trách dọn dẹp chai nước trong sòng bạc trong quá trình con bạc tham gia đánh bạc. Tính không tham gia đặt cược.
Lê Viết T8 là người thay G phụ trách việc xóc dĩa cho các con bạc tham gia đánh bạc. Không tham gia đặt cược.
Trần Thị H1 đồng ý để nhà của mình cho S1 tổ chức đánh bạc. Không tham gia đặt cược.
Nguyễn Quang T1 mang theo số tiền 32.700.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. T1 tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 400.000 đồng nhưng thua hết cả 02 ván. Khi đang chơi đánh bạc thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang và bị tạm giữ số tiền còn lại là 31.900.000 đồng.
Trần Như O mang theo số tiền 30.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Khi vào trong chiếu bạc, O đưa cho Trần Bảo A1 1.500.000 đồng để nhờ A1 đánh bạc giúp thì A1 đồng ý rồi cầm 1.500.000 đồng tham gia đặt cược được khoảng 03-04 ván thì bị bắt quả tang. Oai bị tạm giữ trên người số tiền 28.500.000 đồng.
Huỳnh Trung N1 mang theo 2.800.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. N1 để trong ví và lấy ra 1.700.000 đồng tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván 200.000 đồng, thắng được 01 ván, thua 02 ván, khi chơi ván thứ 04 thì bị lực lượng Công an ập và bắt quả tang. Số tiền còn cầm trên tay là 1.300.000 đồng, N1 vứt lại chiếu bạc. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ trong ví 1.100.000 đồng.
Phạm T5 mang theo 2.300.000 đồng để đánh bạc. Tý tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván 300.000 đồng thua hết 04 ván. Khi bị bắt quả tang, T5 bỏ chạy làm rơi 600.000 đồng, còn lại số tiền 500.000 đồng thì bị tạm giữ.
Lâm Quang A mang theo 800.000 đồng vào tham gia đặt cược 02 ván, ván thứ 1 đặt 100.000 đồng, ván thứ 2 đặt 200.000 đồng, thua hết 300.000 đồng, còn 500.000 đồng đã ném lại trên chiếu bạc khi bị bắt quả tang.
Đặng Minh L1 mang theo 600.000 đồng tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván 200.000 đồng nhưng đều bị thua và hết tiền nên L1 đi ra ngoài ngồi thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang.
Trần Bảo A1 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng giúp Trần Như O tham gia đánh bạc. An tham gia đặt cược được 03-04 ván, khi bị Công an bắt quả tang thì A1 đã chạy thoát. Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định truy nã số 1564/QĐ đối với Trần Bảo A1. Đến ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 159/QĐ để tiếp
tục điều tra, xử lý Trần Bảo A1 sau. Đến ngày 20/11/2024, Trần Bảo A1 bị Công an phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh bắt theo Quyết định truy nã số 1564/QĐ và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.
Mai Xuân T9 khoảng 17 giờ ngày 22/02/2024, Mai Xuân T9 đến nhà Phan Văn S1 chơi. T9 không tham gia đánh bạc mà nằm võng bấm điện thoại thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang.
Đỗ Đức T6 đến nhà S1 để tham gia đánh bạc, nhưng không có tiền và cũng không mượn được tiền nên T6 chỉ đứng xem những người khác đánh bạc cho đến khi bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Nguyễn Văn T10 đến nhà Phan Văn D1 (em của S1 ở cạnh nhà S1) để chơi nhưng không có D1 ở nhà. Tồn nhìn thấy Phan Văn S1 đang ngồi dưới gốc cây phía sau nhà gần nhà bà H1 thì đến xin S1 điếu thuốc hút, không tham gia đánh bạc.
Tổng số tiền thu giữ được trên người của các đối tượng được xác định là tiền đánh bạc là: 62.000.000 đồng. Gồm: Huỳnh Trung N1 1.100.000 đồng, Lâm Quang A 500.000 đồng, Nguyễn Quang T1 31.900.000 đồng, Trần Như O 28.500.000 đồng.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Phan Văn S1, Bùi Thanh G, Nguyễn Văn T4, Lê Viết T8, Trần Đức T7, Trần Thị H1, Nguyễn Quang T1, Trần Như O, Huỳnh Trung N1, Phạm T5, Lâm Quang A, Đặng Minh L1, Trần Bảo A1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HSST ngày 05/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: các bị cáo Phan Văn S1, Bùi Thanh G, Nguyễn Văn T4, Lê Viết T8, Trần Đức T7, Trần Thị H1 đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T1, Trần Như O, Huỳnh Trung N1, Phạm T5, Lâm Quang A, Đặng Minh L1, Trần Bảo A1 đồng phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Phan Văn S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Bùi Thanh G, Nguyễn Văn T4 02 năm tù, bị cáo Trần Đức T7 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Lê Viết T8 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Trần Thị H1 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”
2. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo
Trần Như O 04 (bốn) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024.
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Quang T1 và Lâm Quang A mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 15/3/2024.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Trần Bảo A1, Huỳnh Trung N1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, các bị cáo Phạm T5, Đặng Minh L1 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”,
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 10/3/2025 bị cáo Lâm Quang A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; ngày 11/3/2025 bị cáo Nguyễn Quang T1 kháng cáo xin được hưởng án treo; ngày 17/3/2025 bị cáo Phan Văn S1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 18/3/2025 bị cáo Trần Như O kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo từ đó xử phạt bị cáo Phan Văn S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Trần Như O 04 (bốn) năm tù, Nguyễn Quang T1 03 năm tù, Lâm Quang A 03 năm tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Như O không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, các bị cáo Phan Văn S1, Nguyễn Quang T1, Lâm Quang A có cung cấp một số tài liệu mới nhưng mức hình phạt của cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Luật sư Đặng Thái H bào chữa cho bị cáo Phan Văn S1 tham gia tranh luận: Không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn S1.
Bị cáo S1 là trụ cột chính trong gia đình, nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm u, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo và tuyên phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, tại nhà bị cáo Trần Thị H1, thuộc ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phan Văn S1, Nguyễn Văn T4, Bùi Thanh G, Lê Viết T8, Trần Đức T7, Trần Thị H1 đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa thắng thua bằng tiền. Những người tham gia đánh bạc gồm: Huỳnh Trung N1, Lâm Quang A, Phạm T5, Đặng Minh L1, Trần Như O, Trần Bảo A1, Nguyễn Quang T1. Tổng số tiền thu trên chiếu bạc là 52.900.000 đồng, tổng số tiền thu giữ trên người của các đối tượng chứng minh được là tiền dùng để đánh bạc là 62.000.000. Tổng cộng số tiền đánh bạc là 114.900.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”. Căn cứ vào cách thức tổ chức, số tiền đánh bạc, số tiền thu lợi bất chính, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Phan Văn S1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; tuyên xử các bị cáo Trần Như O, Nguyễn Quang T1, Lâm Quang A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Phan Văn S1, Trần Như O kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Lâm Quang A, Nguyễn Quang T1 kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự tại địa phương. Các bị cáo trong vụ án đều là những công dân trưởng thành,
có bị cáo đã lập gia đình, con cái, lẽ ra phải là những người cha làm trụ cột cho gia đình, làm gương cho con cháu. Thế nhưng các bị cáo không ý thức được vai trò của mình, đánh bài để ăn thua bằng tiền, gây ảnh hưởng đến nếp sống văn minh địa bàn dân cư nên cần phải có mức án phù hợp để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Trần Như O là người có nhân thân rất xấu, đã bị xét xử nhiều lần về các tội danh khác nhau nhưng không lấy đó làm gương để tu dưỡng trở thành người có ích trong xã hội. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo 04 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo Phan Văn S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp Đơn xác nhận là lao động chính trong gia đình, nuôi 02 con nhỏ, mẹ già; Đơn xác nhận của Công an thị trấn K, huyện C về việc đã phát hiện và báo Công an bắt giữ đối tượng Võ H2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm u Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang T1, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có cung cấp Quyết định công nhân thuận tình ly hôn số 50/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, theo Quyết định bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà Võ Thị Ngọc D phải cấp dưỡng nuôi con chung; bị cáo cung cấp thêm Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình, đang nuôi dưỡng 02 con nhỏ và bố mẹ già ngoài 70 tuổi có xác nhận của UBND xã Q, huyện C nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Mặc dù mức hình phạt Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, phạm tội lần đầu và nếu bắt bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn sẽ ảnh hưởng lớn đến việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Lâm Quang A, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp Quyết
định công nhân thuận tình ly hôn số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, theo Quyết định bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Hoài Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung; bên cạnh đó bị cáo còn cung cấp Đ1 xác nhận hoàn cảnh gia đình, đang nuôi dưỡng 03 con nhỏ, trong đó có 01 cháu bị bệnh thiếu máu nặng (bệnh máu trắng), viêm hô hấp và đang nuôi dưỡng mẹ già sinh năm 1939 nhiều bệnh tật có xác nhận của UBND thị trấn N, huyện C. Ngoài ra, bị cáo còn cung cấp Đơn xin xác nhận lập công có xác nhận của Công an thị trấn N và Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B về việc bị cáo có chỉ điểm tụ điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án. Xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm u Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét nên áp dụng thêm cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đến thời điểm phạm tội thì bị cáo đã hết thời hiệu bị coi là bị xử phạt vi phạm hành chính nên không coi bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng do số tiền bị bắt trên chiếu bạc hơn 50.000.000 đồng nhưng bị cáo chỉ tham gia với vai trò thứ yếu vì bị cáo chỉ đem theo 800.000 đồng để tham gia đánh bạc. Từ những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm và theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất 02/VBHN-TANDTC ngày 07/09/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo nuôi 03 con còn nhỏ, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt 03 năm tù của Bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Do kháng cáo của bị cáo Trần Như O không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định; kháng cáo của các bị cáo Phan Văn S1. Nguyễn Quang T1, Lâm Quang A được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn S1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Trần Như O, Nguyễn Quang T1, Lâm Quang A đồng phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Như O, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về phần hình phạt;
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Trần Như O 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024).
3. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn S1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về phần hình phạt đối với bị cáo;
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 322; điểm u, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Phan Văn S1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/4/2024.
4. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quang T1, Lâm Quang A, sửa Bản án hình sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo;
4.1 Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Quang T1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm;
Giao bị cáo Nguyễn Quang T1 cho chính quyền địa phương là UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
4.2 Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; các điểm u, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lâm Quang A 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm;
Giao bị cáo Lâm Quang A cho chính quyền địa phương là UBND thị trấn N, huyện C, tỉnh bà R – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Như O phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Phan Văn S1, Nguyễn Quang T1, Lâm Quan A2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thái Hùng |
Bản án số 72/2025/HSPT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về hình sự
- Số bản án: 72/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Như O và đồng phạm - Tổ chức đánh bạc, đánh bạc
