|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày: 26-3-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Sơn.
Ông Dương Văn Quí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2025/HSST-QĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi
thường trú: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Phạm Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 19/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2021/HS-ST ngày 19/3/2021, chấp hành xong ngày 11/01/2024; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 07/10/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (nay là Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Huyện H) và Trại tạm giam Chí Hòa cơ sở T30. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Văn D, sinh năm 2002.
Thường trú: Thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: 600/77 đường Q, Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(ông D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2024, Trần Văn N làm công nhân tại Công ty N1 tại địa chỉ E Ấp A, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và biết anh Lê Văn D cùng làm công nhân tại đây có xe mô tô hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 thường để tại bãi xe của công ty. Công ty N1 không bố trí bảo vệ làm nhiệm vụ trông coi xe, sau khi tan ca thì bảo vệ của công ty có trách nhiệm mở cổng cho công nhân lấy xe ra về. Do cần tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của anh D. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, N đi vào Công ty N1 và khi bảo vệ mở cổng cho công nhân lấy xe về thì N lén lút tiếp cận lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 (bên trong có 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy tất cả mang tên Lê Văn D và tiền Việt Nam 400.000 đồng) dắt đi ra ngoài công ty. Do xe không có chìa khóa nên N dắt bộ xe đến chỗ sửa khóa (không rõ địa điểm) để làm chìa khóa rồi nổ máy chạy thoát. N chạy xe về nhà trọ số I đường S, ấp A, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu và lên mạng tìm người để bán. N tìm hiểu và biết anh Lê Thanh V1 có thu mua xe máy cũ nên N hẹn anh V1 đến trước nhà thờ T1, xã X, huyện H để bán xe mô tô biển số 36BC-004.07 với giá 17.000.000 đồng.
Về phía anh D sau khi phát hiện bị mất xe máy đã đến Công an xã T, huyện H trình báo. Đến ngày 06/10/2024, anh V1 thông báo cho anh D biết việc N đăng bán xe mô tô hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 giống đặc điểm xe anh D bị mất trộm. Anh Vũ đã cung cấp thông tin cho Công an xã T,, huyện H. Sau đó cùng anh D và Công an xã T hệ người bán xe và hẹn đến trước nhà thờ T1, xã X, huyện H để giao dịch thì phát hiện đưa Trần Văn N cùng xe mô tô trên về trụ sở làm việc.
Kết luận định giá tài sản số 207/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 xe mê tô Yamaha MX King 150, biển số 36BC-004.07 có giá trị 32.000.000 đồng.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Trần Văn N khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 có số khung nguyên thủy: MH3UG0750MK098786, số máy nguyên thủy: G3E6E-0639171 do anh Lê Văn D đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy trên cho anh D quản lý, sử dụng.
- - 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy tất cả mang tên Lê Văn D và tiền Việt Nam 400.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh D quản lý, sử dụng.
- - 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác màu đen.
- - 01 điện thoại di động hiệu S J7+.
- - 01 USB lưu trữ dữ liệu camera quan sát (lưu cùng hồ sơ).
Về dân sự: Bị hại Lê Văn D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSHM ngày 14/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N khai nhận hành vi như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về xử lý vật chứng:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 do anh Lê Văn D đứng tên chủ sở hữu; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy tất cả mang tên Lê Văn D và tiền Việt Nam 400.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh D quản lý, sử dụng nên không đề nghị.
- + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác màu đen. Đây là trang phục N mang khi thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo không có yêu cầu nhận lại.
- + Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+ là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc bán xe lấy trộm.
- + Đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ dữ liệu camera quan sát tại bãi giữ xe Công ty N1.
- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Phù hợp với toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 04/10/2024, tại bãi xe Công ty N1 tại địa chỉ cố E Ấp A, xã T, huyện H, Trần Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 trị giá 32.000.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 207/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H), bên trong có 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy, tiền Việt Nam 400.000 đồng của bị hại Lê Văn D. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 32.400.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Trần Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội.
Bị cáo là người đã thành niên, có khả năng lao động nhưng chỉ vì mục đích có tiền tiêu xài nên đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 19/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2021/HS-ST, chấp hành xong ngày 11/01/2024, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MX King 150, màu đỏ đen, biển số 36BC-004.07 do anh Lê Văn D đứng tên chủ sở hữu; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy tất cả mang tên Lê Văn D và tiền Việt Nam 400.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông D theo quy định.
- - 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác màu đen. Đây là trang phục N mang khi thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- - 01 điện thoại di động hiệu S J7+ là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc bán xe lấy trộm, liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
- - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ dữ liệu camera quan sát tại bãi giữ xe Công ty N1.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024.
- - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) áo khoác màu đen.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+.
- Các vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKS-HS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/01/2025.
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ dữ liệu camera quan sát tại bãi giữ xe Công ty N1.
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên) |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
