Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM

TỈNH KON TUM

Bản án số: 72/2025/HS-ST.

Ngày: 24/6/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

A K (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992 tại Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn K, xã V, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Ba na; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A D (đã chết) và bà Y U, sinh năm 1960; Bị cáo chung sống như vợ chồng từ năm 2010 đến năm 2013 với chị Y D1, sinh năm 1994; chung sống như vợ chồng từ năm 2014 đến năm 2018 với chị Y L, sinh năm 1993 và có 01 con chung (với chị Y L), sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: 04:

  1. Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2011/HS-ST ngày 07/01/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/11/2011, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.
  2. Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2013/HS-ST ngày 16/10/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/4/2015, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.
  3. Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2016/HS-ST ngày 22/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/10/2018, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.
  4. Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 05/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 28/10/2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Chị Y Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số D Đ, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh A K1, sinh năm 1986. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn K, xã V, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

    Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh K.

  2. Anh Phạm Ngọc M, sinh năm 1989. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Số C T, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

  3. Ông C, sinh năm 1973. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Làng T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

  4. Anh Trương Duy T, sinh năm 1981. Vắng mặt. Địa chỉ: Số B Bắc Kạn, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
  5. Bà Y W, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: Thôn K, xã V, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 18/12/2024, A K1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên rủ bị cáo A K cùng đi trộm cắp tài sản thì A K đồng ý. Sau đó, A K1 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Max FuSin màu xanh trắng, biển số 82KA-7198, chở theo 01 cộ sắt (có sẵn ở nhà A K1), chở theo A K đi lòng vòng trung tâm thành phố K tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đến nhà D Đ, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum quan sát thấy xung quanh không có người, trong sân nhà chị Y Được có 01 lốp xe ô tô nên A K1 dừng xe lại đứng ngoài cảnh giới và nói A K một mình vào trộm lốp xe ô tô. Sau đó, A K mở lưới B40, đột nhập vào trong sân nhà chị Y Đ và lấy trộm được 01 lốp xe ô tô, nhãn hiệu CHAO YANG 12.00 R20 lốp bố thép có cả vành lốp bằng kim loại. Sau khi trộm cắp được tài sản A K1 điều khiển xe chở cộ và lốp xe vừa trộm được đến nhà Phạm Ngọc M (Số C T, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum). A K1 gặp M và nói vừa trộm được lốp xe ô tô, nhờ M bán giúp khi nào bán được sẽ đến lấy tiền sau. Sau đó, A K1 và M đẩy lốp xe vừa trộm cắp được vào nhà của M để cất, giấu và đi về nhà. Sáng ngày 21/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố K đã thu giữ được xe mô tô kiểu dáng Max FuSin màu xanh trắng, biển số 82KA-7198 và 01 lốp xe ô tô, nhãn hiệu CHAO YANG 12.00 R20 lốp bố thép có cả vành lốp bằng kim loại tại nhà Phạm Ngọc L1, 01 cộ sắt dài 3m, rộng 1m tại nhà A.

*Kết luận định giá số 87/KL-HĐ ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố K kết luận: 01 lốp xe ô tô tải, nhãn hiệu CHAO YANG 12.00 R20 lốp bố thép có cả vành lốp bằng kim loại tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.500.000 đồng.

*Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ 01 xe mô tô kiểu dáng Max FuSin màu xanh trắng, biển số 82KA-7198; 01 lốp xe ô tô, nhãn hiệu CHAO YANG 12.00 R20 lốp bố thép có cả vành lốp bằng kim loại; 01 cộ sắt dài 3m, rộng 1m. Số vật chứng này, Cơ quan CSĐT và Tòa án đã xử lý xong ở vụ án trước.

*Cáo trạng số 74/CT-VKSTPKT ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo A K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo A K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo A K từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được giải quyết tại vụ án trước, do đó không đề nghị.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.

*Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về nội dung vụ án: Trên cơ sở lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định:

    Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 18/12/2024, tại nhà chị Y Đ (Số D Đ, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum), lợi dụng sơ hở của chị Y Đ trong quản lý tài sản, bị cáo A K cùng với A K1 đã trộm cắp 01 lốp xe ô tô, nhãn hiệu CHAO YANG 12.00 R20 lốp bố thép có cả vành lốp bằng kim loại tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.500.000 đồng. Thấy rằng, bị cáo A K có nhân thân xấu, có 04 tiền án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 05/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 28/10/2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng đến ngày 18/12/2024, khi chưa được xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, hành vi của bị cáo A K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 74/CT-VKSTPKT ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo A K là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong đó, A K1 là người chủ mưu, khởi xướng và thực hành còn A K là người thực hành. A K có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của A K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố K. Việc đưa bị cáo A K ra xét xử là cần thiết, có tác dụng răn đe riêng, phòng ngừa chung.
  4. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo A K, thấy rằng:

    Về tình tiết tăng nặng: Không có.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo A K đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 04 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Lần phạm tội này, bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.

  5. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo A K có nhân thân rất xấu, đã 04 lần bị Tòa án xử phạt tù về các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, thay đổi bản thân. Lần phạm tội này, bị cáo tiếp tục thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt. Điều này thể hiện bị cáo có bản chất lười lao động, ham chơi, thích hưởng thụ, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có một bản án với mức án nghiêm khắc, tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo A K với đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân; để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản của công dân.
  6. Ngoài ra, trong vụ án này, còn có các đối tượng sau:
    • + A K1 là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê bị cáo A K đi trộm cắp. A K1 đã bị xử phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2025/HS-ST ngày 08/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.
    • + Anh Trương Duy T là chủ xe mô tô biển kiểm soát 82KA-7198, T cho C mượn xe nhưng cả T và C đều không biết việc A K1 sử dụng xe này để đi trộm cắp tài sản. Do đó, không có cơ sở để xử lý đối với T và C.
    • +Anh Phạm Ngọc M là người cho A K1 và A K gửi tài sản trộm cắp. Theo lời khai của A K1 thì M biết tài sản là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý cho gửi để bán hộ tài sản. Tuy nhiên, M không thừa nhận và cho rằng, chỉ nhận gửi hộ, không biết tài sản trộm cắp. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng chưa có đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với M. Do đó, giao cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.
    • +Bà Y W là chủ sở hữu xe cộ sắt nhưng hoàn toàn không biết A K1 lấy xe cộ để thực hiện hành vi trộm cắp nên không xử lý đối với Y W là phù hợp.
  7. Về vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã được cơ quan CSĐT và Tòa án xử lý xong trong vụ án xét xử đối với A K1 nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.
  8. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. Về án phí: Bị cáo A K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh.

    Tuyên bố: Bị cáo A K (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  2. Về hình phạt.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo A K 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 01/4/2025.

  3. Về án phí:

    Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 6, 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo A K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

    Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/6/2025), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSNDTP;
  • - Công an Tỉnh;
  • - Thi hành án dân sự TP;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 72/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: A Kh phạm tội : Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger