|
TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày: 03-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đới Xuân Huy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lù Thanh Xá |
| Bà Vàng Thị Thu |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST- HS ngày 21/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Mò N - Sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Đư X (đã chết) và bà Giàng Xạ N1 - sinh năm 1965; Bị cáo có chồng là Pờ Hu C - sinh năm 1986 và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Phảm Mò C1 - sinh năm 1999. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt)
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng A N2 (Có mặt)
Nơi công tác: UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/12/2024, trên đường đi làm nương, khi đến đầu bản N, xã P, huyện M, Vàng Mò N gặp một người phụ nữ lạ mặt. Qua trao đổi, N mua của người này 11 gói Heroine, mỗi gói bọc bằng nilon màu xanh, sau đó được gói chung trong một mảnh nilon màu xanh, với giá 500.000 đồng. Nu mua số Heroine này với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được H, N cất vào túi quần rồi tiếp tục đi làm nương.
Đến trưa cùng ngày, sau khi nghỉ làm, N vào ngủ trong một ngôi nhà bỏ hoang gần bãi đất nương. Tại đây, N lấy toàn bộ số Heroine chôn xuống đất ngay trước cửa ra vào, không cho ai biết.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi N đang ở trong ngôi nhà hoang thì Phản Mò Chô đến hỏi mua Heroine để sử dụng. Nu lấy một gói Heroine từ chỗ chôn giấu và bán cho C1 với giá 50.000 đồng. Sau đó, N gói số Heroine còn lại và tiếp tục giấu tại vị trí cũ. Đêm đó, N ngủ lại trong ngôi nhà bỏ hoang.
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 06/12/2024, sau khi làm nương xong, N lấy toàn bộ số Heroine còn lại rồi ra về. Khi đến đầu bản Nhú Ma, N gặp tổ công tác Đồn Biên phòng P đang làm nhiệm vụ kiểm tra. Khi được yêu cầu, N đã giao nộp 10 gói Heroine còn lại cùng số tiền 50.000 đồng. Đồng thời, N khai nhận toàn bộ hành vi mua bán, tàng trữ Heroine của mình. Trước sự việc trên, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Từ lời khai của Vàng Mò N, cùng ngày, Đ Biên phòng Pạ Ủ đã tiến hành xác minh và triệu tập Phản Mò Chô để làm rõ. C1 khai nhận rằng sau khi mua gói Heroine từ N, C1 đã mang về nhà sử dụng hết. Đồng thời, C1 tự nguyện giao nộp một bật lửa gas màu xanh và một mảnh giấy bạc, là những dụng cụ đã dùng để sử dụng gói Heroine trên.
Tại bản kết luận giỏm định tư phỏp số 129/KLGĐ ngày 07/12/2024 của người giỏm định tư phỏp theo vụ việc Cụng an huyện M, đó kết luận: Tổng khối lượng chất bột khụ, màu trắng thu giữ của Vàng Mũ Nu là 0,77 gam.
Tại bản kết luận giỏm định số 1219/GĐ-KTHS ngày 08/12/2024 của Phũng K Cụng an tỉnh L kết luận đối với mẫu vật thu giữ của Vàng Mũ Nu: 10 Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến Mẫu 10) gửi giỏm định là ma tỳy; loại: Heroine...
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-MT ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Vàng Mò Nu về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Vàng Mò N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo Vàng Mò N mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh; 11 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn Biên phòng P phát hành; tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 50.000 đồng.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khoản 3 Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo Vàng Mò N tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 05/12/2024, tại một ngôi nhà bỏ hoang thuộc bản N, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu, Vàng Mò N đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Phản M Chô với giá 50.000 đồng. Đến 13 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại bản N, xã P, huyện M, N bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 10 gói Heroine có tổng khối lượng 0,77 gam, với mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Số Heroine này có chung nguồn gốc với gói Heroine mà N đã bán cho Phản M Chô trước đó.
Bị cáo Vàng Mò N có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về mua bán các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời bất chính nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi bán ma túy trái phép cho Phản Mò C2, tàng trữ với mục đích để mua bán trái phép 0,77 gam Heroine để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khoản 3 Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ với mục đích để mua bán tương đối lơn, nên đề nghị của người bào chữa chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, quan điểm của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân:
Bị cáo Vàng Mò N chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã tự khai ra hành vi bị cáo bán ma túy cho Phản Mò C2, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Do bị cáo là người nghiện chất ma túy, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, công việc và thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án: 0,77 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, việc gửi mẫu vật đi giám định là phù hợp với quy định của pháp luật. 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh; 11 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn Biên phòng P phát hành là vật dùng vào việc phạm tội và dùng để liêm phong vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng là tiền bị cáo bán Heroine mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[6]. Về những vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán Heroine cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.
Đối với Phản Mò C2: Quá trình điều tra xác định, C2 mua Heroine với mục đích để sử sụng, và C2 đã sử dụng hết. Do đó, Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định.
[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Vàng Mò N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vàng Mò N 02 năm 02 tháng năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh; 11 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn Biên phòng P phát hành. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo Vàng Mò N.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 02 tháng 4 năm 2025)
- Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Xuân Huy |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
