|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/HS-ST
Ngày: 17 - 11 -2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Túy
Ông Dương Văn Nhuận
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Hương – Thư ký viên Toà án của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/HSST-QĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Đinh Bạt G; sinh ngày 02 tháng 6 năm 1995; Số căn cước công dân: [...]; nơi sinh: Nghệ An; Nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện L (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Bạt C (chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1958; có vợ Lương Thị K, sinh năm 1996 và 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
2. Họ và tên: Vũ Hồng C1; sinh ngày 27 tháng 2 năm 1977; Số căn cước công dân: [...]; nơi sinh: Hòa Bình; Nơi cư trú: E C, phường G, thành phố Đ (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hồng X (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1938; có vợ Lương Thị T1, sinh năm 1987 và 03 con; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
3. Họ và tên: Phạm Ngọc V; sinh ngày 15 tháng 12 năm 1989; Số căn cước công dân: [...]; nơi sinh: Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT: thôn C, xã T, huyện T (hiện nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, phường L - Ð, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc C2 (chết) và bà Trần Thị P, sinh năm 1959; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Đình L - Luật sư, thuộc Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh L, bào chữa cho bị cáo Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G và Phạm Ngọc V; có mặt.
-Bị hại: Công ty TNHH X1; địa chỉ: A M, phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ liên lạc: đường A phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng); Đại diện theo pháp luật ông Lê Quý L1, sinh năm 1956, chức vụ: Giám đốc. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: thôn Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
2. Anh Huỳnh Tấn Ý, sinh năm 1981. Nơi cư trú: 5 X, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
1. Anh Đinh Văn P1; Nơi cư trú: thôn Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
2. Anh Phan Duy Q; Nơi cư trú: thôn Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V là công nhân làm việc tại Công ty TNHH X1 (công ty X1). Khoảng 09 giờ ngày 08/08/2024, khi đang dọn dẹp sân bãi tại khu vực nhà kho của công ty X1 tại thôn Đ, xã L, huyện L, (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng thì Vũ Hồng C1 và Đinh Bạt G nhìn thấy ở phía bên góc bãi để xe có 02 (hai) ray xích xe máy ủi đặt ở sát bên đường, C1 và G nảy sinh ý định lấy, bán 02 (hai) ray xích này để lấy tiền tiêu xài. Cùng lúc đó có Phạm Ngọc V đến, C1 và G rủ V cùng tham gia, V đồng ý. V gọi điện thoại cho ông Nguyễn Văn K1 là người thu mua phế liệu để bán 02 (hai) ray xích xe máy ủi này thì K1 đồng ý mua. Tiếp đó, V
dùng xe máy xúc cẩu 02 (hai) ray xích để sang bên bãi đất trống đối diện với nhà kho của Công ty. Khi ông K1 tới, ông K1 cùng V thoả thuận với nhau và thống nhất ông K1 mua 02 ray xích này với giá 4.000.000 (bốn triệu đồng), K1 để lại 02 ray xích lại bãi đất và dùng bạt phủ lên. K1 đã chuyển số tiền này vào khoản ngân hàng của V; V đã chuyển vào tài khoản ngân hàng cho C1 và G mỗi người 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn đồng).
Đến trưa ngày 09/08/2024, ông Nguyễn Văn K1 dùng xe ô tô chở 02 (hai) ray xích này về kho phế liệu của ông K1 tại thôn Đ, xã L, huyện L (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 20/08/2024, ông K1 mang số phế liệu đã thu mua từ trước cùng 02 (hai) ray xích mua được ngày 08/08/2024 đến tiệm thu mua phế liệu của ông Huỳnh Tấn Ý tại đường X, phường G, thành phố Đ, (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng và bán được là 9.000.000 (chín triệu đồng), trong đó số tiền bán 02 (hai) ray xích là 6.000.000 (sáu triệu đồng).
Kết quả kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, kết quả xác định hiện trường đã xác định nơi xảy ra vụ việc mất tài sản là khu vực bãi tập kết phương tiện của công ty TNHH X1, đường Đ, thôn Đ, xã L, huyện L (hiện nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng; tại hiện trường, Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V, Nguyễn Văn K1 đã xác định vị trí của 02 ray xích tại bãi tập kết phương tiện, vị trí các đối tượng để 02 ra xích tại bãi đất trống đối diện với nhà kho của Công ty sau khi dùng máy cẩu đi. 02 (hai) ray xích là tài sản các bị cáo trộm cắp được và đã bán cho ông Nguyễn Văn K1, sau đó, ông K1 đã bán 02 ray xích này cho ông Huỳnh Tấn Ý, ông Ý đã bán 02 ray xích này cho các đại lý phế liệu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu hồi được.
Ông Nguyễn Văn K1 là người đã mua 02 ray xích do các bị cáo trộm cắp mà có; ông Huỳnh Tấn Ý là người đã mua 02 ray xích từ ông K1: Khi ông K1 gặp, thoả thuận mua bán với các bị cáo, ông K1 không biết việc các bị cáo tự ý lấy 02 ray xích này của Công ty X1 bán cho ông K1 nên ông K1 đã mua; Khi ông K1 bán 02 ray xích cho ông Ý, ông Ý không biết 02 ray xích này có nguồn gốc từ việc các bị cáo trộm cắp mà có. Do đó, ông Nguyễn Văn K1, ông Huỳnh Tấn Ý không đồng phạm với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, không phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 12/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận giá trị của 02 (hai) sợi ray xích máy ủi của máy ủi bánh xích nhãn hiệu Komatsu D31-16 vào thời điểm ngày 08/8/2024 là 3.055.200 (ba triệu không trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Cáo trạng số 01/CT-VKSV1-LĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng truy tố bị cáo Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G và Phạm Ngọc V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thực hiện như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Các bị cáo không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng và không thắc mắc khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người bị hại trình bày sau khi sự việc xảy ra ông đã được các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại; Tại phiên tòa ông không yêu cầu bồi thường thêm và không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng và không thắc mắc khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1–Lâm Đồng trình bày luận tội, tranh luận đối với bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 01/CT-VKSV1-LĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025. Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ về hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1–Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đinh Bạt G, Vũ Hồng C1, Phạm Ngọc V mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tú, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về biện pháp tư pháp: buộc các bị cáo nộp lại số tiền 4.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: về tội danh và điều luật đã được truy tố với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật; tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo như quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và được bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo, các đương sự không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo trình bày đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tố tụng: Người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Về căn cứ kết tội bị cáo: Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của bị hại, của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ, ngày 08/8/2024, tại thôn Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng, Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V đã trộm cắp 02 (hai) sợi ray xích máy ủi của máy ủi bánh xích nhãn hiệu Komatsu D31-16 trị giá 3.055.200 (ba triệu không trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng). Hành vi của các bị cáo Vũ Hồng C1, Đinh Bạt G, Phạm Ngọc V thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5]. Về quyết định hình phạt: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ các bị cáo biết rõ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nếu ai xâm phạm không được sự đồng ý của chủ sở hữu sẽ bị pháp luật trừng trị thích đáng; nhưng các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương; Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo; Qua xem xét các lời trình bày của các bị cáo, bị hại và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội với hành vi là ngang nhau và là người có nhân thân tốt, đồng thời các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có khả năng kinh tế, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về biện pháp tư pháp khác: Buộc các bị cáo nộp lại số tiền 4.000.000 (bốn triệu đồng) tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp để sung ngân sách Nhà nước.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Bạt G, Vũ Hồng C1 và Phạm Ngọc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Đinh Bạt G 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2025).
2.2. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng C1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2025).
2.3. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc V 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2025).
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L-Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự (Đã giải thích chế định án treo).
3. Về các biện pháp tư pháp khác: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 4.000.000 (bốn triệu đồng) thu lợi bất chính gốm: bị cáo Vũ Hồng C1 số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm ngàn đồng), tại biên lai thu tiền số 0001412 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; bị cáo Đinh Bạt G số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm ngàn đồng), tại biên lai thu tiền số 0001413 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; bị cáo Phạm Ngọc V số tiền 1.400.000 (một triệu bốn trăm ngàn đồng), tại biên lai thu tiền số 0001411 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (các bị cáo đã nộp đủ).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đinh Bạt G, Vũ Hồng C1 và Phạm Ngọc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phúc |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Dương Văn Nhuận – Hoàng Ngọc Túy |
Nguyễn Văn Phúc |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Bạt G phạm tội trộm cắp tài sản
