TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 72/2025/HS-ST
Ngày: 14/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Lê Hữu Luân;
- - Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Bá Thứ – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm K - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Cao Minh C, sinh năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: 3 T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Ngọc Văn S, không rõ năm sinh và bà Trần Thị Kim H, không rõ năm sinh; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đào Chí V: Vắng mặt
Địa chỉ: A B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Bá T: Có mặt
Địa chỉ: C Tổ H, Ấp C, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Minh C (sinh năm 1977) là nhân viên bảo vệ Công ty T2 từ khoảng tháng 5/2024 (chưa ký Hợp đồng lao động, đang trong giai đoạn thử việc) và được giao nhiệm vụ giữ xe tại Siêu thị Đ tại số B đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian làm việc, C thấy anh Đào Chí V (sinh năm 1990, là nhân viên của Công ty Cổ phần T3) thường xuyên gửi xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59C3-187.30 của anh V cho ông Anh Việt H1 (cũng là nhân viên bảo vệ Công ty T2 và được giao nhiệm vụ giữ xe tại Siêu thị Đ) trông coi hộ mà không có thẻ giữ xe và luôn để chìa khóa trên xe nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh V để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/7/2024, anh V gửi xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59C3-187.30 cho ông H1 như thường lệ. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C nói với ông H1 đang bị bệnh nên vay ông H1 200.000 đồng để đi mua thuốc thì ông H1 đồng ý. Sau đó, C đi bộ vào trong phòng bảo vệ lấy chiếc áo khoác màu xanh của C mặc vào rồi đi đến vị trí anh V để xe mô tô, trên xe để sẵn chìa khoá xe nên C khởi động máy, lấy trộm rồi điều khiển xe mô tô của anh V rời khỏi bãi giữ xe siêu thị điện máy “Nguyễn Kim”. Ông H1 không biết việc C đã lấy trộm xe của anh V. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, ông H1 không thấy C quay lại, cũng không liên lạc được với C nên ông H1 thông báo cho anh Nguyễn Chí G (nhân viên chăm sóc khách hàng của siêu thị điện máy “Nguyễn K1”) về việc C bỏ vị trí trực bảo vệ. Anh G kiểm tra camera thì phát hiện việc C trộm cắp xe của anh V và báo anh V biết. Sau đó, ông Hồ Chí T1 (là giám sát khu vực Công ty T2) biết sự việc nên đã đại diện Công ty T4 bồi thường cho anh V số tiền 3.000.000 đồng thì anh V đồng ý nên anh V không đến Công an P, quận B trình báo sự việc.
Về phía C, sau khi lấy trộm xe mô tô của anh V thì C di chuyển xe trên nhiều tuyến đường tại Thành phố Hồ Chí Minh để nhặt chai, lọ, sắt vụn bán lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 14/7/2024, C điều khiển xe mô tô của anh V về khu đất trống, tổ I, khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An và sinh sống tại đây. Đến ngày 17/7/2024, C điều khiển xe mô tô của anh V đến khu phố L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An gặp anh Lương Bá T (sinh năm 1979) để bán lại xe trên cho anh T. Anh T hỏi về nguồn gốc xe mô tô trên thì C nói đây là xe mô tô được người thân trong gia đình cho, hiện đã làm mất giấy từ xe, do C cần tiền nên muốn bán lại thì anh T đồng ý mua và thống nhất giá mua lại xe mô tô là 2.000.000 đồng, anh T trả tiền mặt cho C. Sau khi nhận được tiền Cảnh đã tiêu xài cá nhân hết.
Qua tìm hiểu, anh Đào Chí V biết Cao Minh C đang sinh sống tại khu phố K, thị trấn C, tỉnh Long An nên đã trình báo sự việc và cung cấp thông tin cho Công an thị trấn C.
2
Đến ngày 24/9/2024, Công an thị trấn C đã mời C về làm việc cũng như thu giữ được xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59C3-187.30 của anh V mà C đã bán cho Lương Bá T. Sau đó, Công an thị trấn C đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an P, quận B để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Cao Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản 252/KLĐGTS-TCKH ngày 26/09/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận B, kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Wave, biển số: 59C3-187.30 của anh Đào Chí V trị giá 7.000.000 đồng.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-187.30.
- Kết luận giám định 5914/KL-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Phòng K2 Công an Thành phố H, kết luận: xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-187.30 có số máy, số khung không bị đục lại số. Qua xác minh được biết xe trên do anh Đào Chí V đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho anh V.
- - 01 USB ghi nhận vụ nội dung vụ việc trộm cắp tài sản.
Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSBTh ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Cao Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Cao Minh C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đào Chí V đã nhận lại xe mô tô bị Cao Minh C trộm cắp nên anh V không có yêu cầu gì thêm; ông Lương Bá T không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông số tiền 2.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
3
Số tiền 3.000.000 đồng ông Hồ Chí T1 đã bồi thường cho ông Đào Chí V, ông Hồ Chí T1 không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông, đây là sự tự nguyện của ông T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với ông Lương Bá T khi mua lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-187.30 của anh Đào Chí V do anh Cao Minh C trộm cắp được thì không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với ông T về hành vi Tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm Sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-187.30 của anh Đào Chí V, trị giá 7.000.000 đồng nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo
4
nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
Đối với ông Lương Bá T khi mua lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-187.30 của anh Đào Chí V do bị cáo Cao Minh C trộm cắp được thì không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với ông T về hành vi Tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đào Chí V đã nhận lại xe mô tô bị Cao Minh C trộm cắp nên anh V không có yêu cầu gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Bá T không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông số tiền 2.000.000 đồng; Số tiền 3.000.000 đồng ông Hồ Chí T1 đã bồi thường cho ông Đào Chí V, ông Hồ Chí T1 không yêu cầu bị cáo trả lại, đây là sự tự nguyện của ông T và ông T1 được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 USB ghi nhận nội dung vụ việc trộm cắp tài sản nên lưu vào hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Cao Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.
- - Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận nội dung vụ việc trộm cắp tài sản của bị cáo Cao Minh C.
- - Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Cao Minh C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Dũng |
6
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm, trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm, Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Minh Cảnh - Trộm cắp tài sản
