Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HS-ST

Ngày: 09/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phụng
  2. Ông Vũ Tiến Thịnh

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Việt T, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Thanh T1 (đã chết), ông T1 đã được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và bà Trần Thị O; có vợ là Trần Thị Kim T2 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/3/2025 đến ngày 31/3/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến:

+ Ông Tăng Đình C, sinh năm 1957

Nơi cư trú: Số nhà D, đường T, tổ13, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

+ Ông Đặng Huy C1, sinh năm 1977

Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ I, đường Q, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(ông C, ông C1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/3/2025, bị cáo Phạm Việt T đi bộ một mình đến khu vực ngõ B, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T gặp và mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó bị cáo cầm gói ma túy trên trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày khi bị cáo đi bộ đến khu vực ngõ A, đường H, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an phường Q, thành phố T phối hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Tăng Đình C và ông Đặng Huy C1, bị cáo đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số: 286/KL-KTHS ngày 29/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1359 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm năm mươi chín gam).

Bản Cáo trạng số: 71/CT-VKSTPTB ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phạm Việt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Phạm Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Việt T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định.

Bị cáo Phạm Việt T không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Việt T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 25/3/2025 tại trụ sở Công an phường Q, thành phố T; kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T... cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 10 phút ngày 25/3/2025, tại khu vực ngõ A đường H, tổ A, phường Q, thành phố T; bị cáo Phạm Việt T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1359 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Việt T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý. Ma tuý là chất gây nghiện, làm suy yếu sức khoẻ con người, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Việt T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại các giai đoạn tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Phạm Việt T, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tại phiên tòa, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Phạm Việt T là lao động tự do, hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy quản lý của bị cáo Phạm Việt T hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Phạm Việt T khai mua ma túy của 01 người nam giới khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngõ B, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Việt T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Việt T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Việt T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Việt T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Việt T hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì, bên ngoài ghi số: 286/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh T.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/5/2025).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Việt T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Việt T có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/6/2025).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - CQ CSĐT, THAHS Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại TG Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Việt T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger