|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2025/HS-PT Ngày 11 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh, ông Cao Minh Lễ.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 78/2025/TLPT- HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với vụ án Võ Thanh P, Võ Thanh Q, Nguyễn Thái B, Đặng Thành Đ, Nguyễn Quốc N, Trần Anh H, Trần Văn Q1, Lê Văn T, Huỳnh Ngọc P1, Trần Chí V, Dương Hùng V1, Nguyễn K, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Chí C; do có kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Lê Văn T (Mèo), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1997, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hoà Hảo; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Lê Văn Q2, sinh năm 1972 và bà Trần Thị P2, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Trần Văn Q1, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2003, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Trần Văn M, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Trong vụ án còn có các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 15/4/2024, Võ Thanh P cùng Võ Thanh Q, Huỳnh Ngọc P1, Nguyễn Thái B, Trần Văn Q1, Nguyễn Quốc N, Lê Văn T, Dương Hùng V1, Trần Chí V, Nguyễn K, Trần Anh H, Nguyễn Chí C, Đặng Thành Đ, Nguyễn Văn Â, Nguyễn Văn T1, Phan Thanh S, Trần Trọng N2, Đỗ Ngọc M1, Đỗ Phi L và 01 thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến quán nhậu “Q” thuộc khu vực chợ M3, thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang do Trần Văn T2 và Nguyễn Thị Thúy O làm chủ, để uống bia. Cùng lúc này, có Nguyễn Văn C1, Nguyễn Nhựt T3 và Lâm Minh M2 vào ngồi uống bia cách bàn của nhóm P khoảng 07 mét.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, P cùng một số người trong nhóm đi ra phía sau quán để vệ sinh. Lúc này, M2 cũng đi vào để đi vệ sinh, nhưng do chờ lâu nên M2 nói “Mấy thằng mày đi gì mà đông dữ vậy”. Nghe vậy, sau khi đi vệ sinh xong, P cầm ly bia đi qua bàn của M2 mời bia và xin lỗi, trong lúc nói chuyện qua lại thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cự cải, M2, T3 dùng tay định đánh P thì P dùng tay cản lại. Lúc này, Q, P1, B, Q1, N, T3, H, Chí V, K, H, C, Đ, T1 ngồi gần đó nhìn thấy P và M2, T3 xảy đánh nhau, nên cùng đứng dậy cầm ghế nhựa, vỏ chai bia, kết bia, ly thủy tinh cầm trên tay xông qua bàn của M2 để tiếp P, thì P, Q, P1, B, Q1, N, T3, H, Chí V, K, H, C, Đ, T1 dùng tay, chân, ghế nhựa, vỏ chai bia, kết bia, ly thủy tinh đánh liên tiếp vào người của C1 và T3 trúng vùng đầu, sống mũi, chân, tay gây thương tích, M2 thì chạy thoát. Riêng  khi xông qua bàn để đánh nhau thì thấy Cầu là người quen nên không đánh C1 mà dùng tay, chân đánh T3, thì được S, N2, M1, L và T2 đứng ra can ngăn, nên P, Q, P1, B, Q1, N, T3, H, Chí V, K, H, C, Đ, T1,  bỏ đi. Ông C1 và T3 được đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh A tại thành phố C cấp cứu, điều trị đến ngày 17/4/2024, ngày 22/4/2024 T3, C1 xuất viện.
Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo P, Q, P1, B, Q1, N, T3, H, Chí V, K, H, C, Đ, T1 và người liên quan là Nguyễn Văn  đã bồi thường cho Nguyễn Văn C1 35.000.000 đồng, Nguyễn Nhựt T3 6.000.000 đồng Trần Văn T2 890.000 đồng. Ông C1, ông T3 có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với tất cả nhóm người đã gây thương tích cho mình.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 436/24/KLTgTHS-TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Văn C1:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng đầu, kích thược (04 x 01 )cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật có nhiều góc cạnh sắc gây nên.
- Vết thương sau đuôi chân mài phải, kích thước (01 x 0.2) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật có nhiều góc cạnh sắc gây nên.
- Vết thương vùng sống mũi, gây gãy xương chính mũi. Tỷ lệ là 11% (mười một phần trăm). Do vật có nhiều góc cạnh sắc gây nên.
- Sẹo vùng cẳng tay trái, kích thước (01 x 0.5) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật có nhiều góc cạnh sắc gây nên.
- Vết thương ngón bàn chân trái, kích thước (1.5 x 0.5) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Văn C1 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là: 14% (mười bốn phần trăm).
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 435/24/KLTgTHS-TTPY ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp tỉnh A, đối với Nguyễn Nhựt T3:
1. Các kết quả chính:
Kết quả nghiên cứu hồ sơ: Vết thương vùng chẩm, kích thước (03 x 01)cm, có khâu; vết thương vùng trán, kích thước (0.5 x 0.5) cm; các vết xây sát da trên bàn tay trái sẽ mất dần sau khoảng 21 ngày.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Nhựt T3 tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là: 04% (không bốn phần trăm).
2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật có nhiều góc cạnh gây nên.
Bản kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 08 (tám) cái ghế nhựa, loại có dựa lưng trị giá 640.000 đồng; 01 (một) kính trắng, kích thước 40 x 40cm trị giá 100.000 đồng; 05 (năm) ly thủy tinh, loại có tay cầm trị giá 50.000 đồng; 10 (mười) chai bia nhãn hiệu Sài Gòn đỏ trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá: 890.000 đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng).
Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 485/2024/KLGĐ và Công văn số 485.1/PYTTTNB ngày 18/11/2024, ngày 22/11/2024 của Trung tâm P3 đối với Nguyễn Chí C, sinh năm 2004:
- Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0-ICD10), mức độ vừa + Động kinh (G40 – ICD10).
- Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại, đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0-ICD10), mức độ vừa.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định: tuyên bố các bị Lê Văn T, Trần Văn Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 134, Điều 17, Điều 58, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Văn Q1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt các bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, còn tuyên xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/3/2025, các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với lý do Cha mẹ T già yếu, Vợ Q1 mang thai, mẹ Q1 bệnh tim.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1, giữ nguyên bản án sơ thẩm; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về nội dung: quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 trong vụ án, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ ngày 22/4/2024, xuất phát từ việc cự cãi nhau giữa bị cáo Võ Thanh P với nhóm của Nguyễn Văn C1, Nguyễn Nhựt T3 và Lâm Minh M2 tại quán nhậu “Quan Tiến” thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Nhóm của bị cáo P gồm các bị cáo Võ Thanh P, Võ Thanh Q, Nguyễn Thái B, Đặng Thành Đ, Nguyễn Quốc N, Trần Anh H, Trần Văn Q1, Lê Văn T, Huỳnh Ngọc P1, Trần Chí V, Dương Hùng V1, Nguyễn K, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Chí C đã có hành vi dùng tay, chân, ghế nhựa, vỏ chai bia, kết bia, ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh Nguyễn Văn C1 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% (mười bốn phần trăm).
Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại Nguyễn Văn C1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Nhựt T3 được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang các tội phạm xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác đang có chiều hướng gia tăng, là một trong các nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 mỗi bị cáo 01 năm 06 tháng tù, là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà các bị cáo đã gây ra, đã có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Q1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Lê Văn T, Trần Văn Q1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 72/2025/HS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 72/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
