Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HS-PT

Ngày: 02-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Huỳnh Trọng Cẩn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Hưng Bính và bà Trần Thị Huê.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phan Văn K do có kháng cáo của bị cáo và bị hại anh Lê Đình D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 328/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 63/2025/QĐXXPT-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định hoãn phiên toà số: 1520/2025/HSPT-QĐ ngày 31/3/2025, theo Thông báo thời gian mở phiên toà số: 2244/2025/TB-TA ngày 05/5/2025 và Theo Quyết định hoãn phiên toà số: 2463/HSPT-QĐ ngày 15/5/2025 đối với:

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Văn K, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1983; tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là thành phố H); giới tính: Nam; số định danh cá nhân: 046083006776; nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường A, quận T, thành phố H); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ điện nước; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Phan Văn T, sinh năm 1962 và bà Lê Thị M, sinh năm 1963; gia đình 03 anh em ruột, bị cáo là con đầu; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1995; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019.

* Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với cha, mẹ tại tổ A, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là quận T, thành phố H), học văn hoá đến lớp 12/12 thì nghỉ học;

  • - Từ năm 2001 - 2002 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Tiều đoàn 4, Trung đoàn 335, E 324, Quân khu D đóng quân tại Nghệ An;
  • - Từ năm 2003 - 2010 xuất ngũ làm công nhân tại Khu Công nghiệp P;
  • - Từ năm 2010 làm nghề thợ điện, nước cho đến nay.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/07/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Lê Đình D, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A kiệt A H, phường P, quận T, thành phố H, có mặt.

- Người làm chứng: Bà Ngô Thị Tường V; địa chỉ: Số A kiệt A H, Phường P, quận T, thành phố H, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 18 giờ 55 phút ngày 23/4/2024, Phan Văn K điều khiển xe mô tô biển số 75B1-316.48 đến nhà bác của K là ông Lê Đình T1 để nói chuyện và thương lượng liên quan đến thửa đất mà gia đình ông T1 đang tranh chấp với gia đình K. Khi K đang ngồi trong nhà ông T1 để nói chuyện với ông T1 và con trai ông T1 là anh Lê Đình D thì ông Phan Văn T là bố ruột của K chạy từ ngoài vào nhà của ông T1 nói to tiếng rồi gọi K đi ra ngoài. Sau đó, ông T đi ra đường kiệt trước nhà ông T1 và nói to tiếng cho những người hàng xóm xung quanh nghe thấy về việc gia đình ông T1 tranh chấp mảnh đất mà gia đình ông T cùng các con đang sinh sống. Lúc này, K cũng đi ra dắt xe mô tô 75B1-316.48 dựng trước đường kiệt, ông T1 và anh D ra đứng trước hiên nhà. Tiếp đó, K mở cốp xe mô tô lấy ra 02 con dao xông vào phía ông T1, ông T1 đi lùi vào phía trong nhà nên K quay qua phía của anh D đang đứng gần đó rồi sử dụng dao đang cầm trên tay phải đâm vào phía bụng của anh D gây thương tích tại vùng bụng phải cho anh D. Anh D bị thương nên đi vào nhà còn K được ông T kéo ra ngoài. Sau đó, K mang theo 02 con dao chạy đến vứt xuống sông A nên không thu giữ được tang vật.

Ngày 01/5/2024, anh Lê Đình D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quá trình điều tra Phan Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 31124/KLTTCT-GĐPY ngày 18/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở y tế tỉnh T đối với thương tích của anh Lê Đình D, kết luận:

  • + Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: Vết biến đổi sắc tố da vùng bụng phải, không ảnh hưởng chức năng: 0,5%.
  • + Kết luận : Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình D tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm). Vật gây thương tích: Tổn thương nông vùng bụng phải do vật có cạnh nhỏ tác động kiểu sượt qua.

- Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:

  • + 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ, biển số 75B1-316.48, số máy: C53E-1037831, số khung 338DY-038100, tiếp tục tạm giữ để phục vụ truy tố, xét xử.
  • + 01 USB hiệu Lexar 32G, màu đen bên trong có chứa 03 (ba) đoạn video trong đó gồm: 09 phút 44, 20 phút 05, 34 phút được trích xuất từ 02 camera an ninh tại địa chỉ 1 H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào lúc 18 giờ 55 phút ngày 23/4/2024.
  • + 01 USB hiệu SanDisk Cruzer Glide 3.0 16GB màu đen, đỏ, trắng chứa 03 đoạn video, gồm: 01 video dài 13 phút 05 giây; 01 video dài 07 giây; 01 video dài 05 phút 03 giây. Toàn bộ 03 video trên được trích xuất từ camera an ninh hiệu Tapo gắn ở hiên nhà địa chỉ 1 H, phường P, thành phố H ghi lại vào ngày 21/02/2024.
  • + 10 ảnh được trích xuất từ camera an ninh đặt tại hiên nhà số A H, phường P, thành phố H ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc xảy ra vào tối ngày 23/4/2024 tại số nhà A H, thành phố H. Trong đó, có 08 ảnh đen trắng và 02 ảnh màu.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải buộc thường thiệt hại tổn thất về tinh thần với số tiền là 70.000.000 đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt bị cáo Phan Văn K 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/11/2024.

Giao bị cáo Phan Văn K cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường A, quận T, thành phố H) và gia đình có trách nhiệm kết hợp với UBND Phường A, trong việc quản lý, giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phan Văn K phải bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho bị hại anh Lê Đình D số tiền là 7.020.000 đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng chẵn).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 02/12/2024, bị hại anh Lê Đình D có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị bổ sung người làm chứng tham gia tố tụng, xem xét hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, áp dụng bổ sung tình tiết tăng nặng phạm tội vì động cơ đê hèn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét lại mức hình phạt được áp dụng để có tính răn đe cho bị cáo.

- Ngày 03/12/2024, bị cáo Phan Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng mức án cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo phan Văn K xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

- Bị hại anh Lê Đình D vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại là trong hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên toà bị cáo Phan Văn K đã rút toàn bộ đơn kháng cáo, xét việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn hoàn tự nguyện đúng pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342, Điều 348, điểm a, đ khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Văn K.

Về kháng cáo của bị hại anh Lê Đình D: Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào mới làm căn cứ để áp dụng đối với bị cáo có tính chất côn đồ, áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 328/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn K, bị hại anh Lê Đình D trong thời hạn kháng cáo và có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phan Văn K đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Văn K.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 55 phút ngày 23/4/2024, tại số nhà A H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường P, quận T, thành phố H), do có mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai nên Phan Văn K đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của anh Lê Đình D gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%, bị hại là anh Lê Đình D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Phan Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị hại đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, áp dụng thêm tình tiết tăng nặng phạm tội vì động cơ đê hèn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 của bộ luật hình sự và xem xét lại mức hình phạt được áp dụng để có tính răn đe cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi cố ý gây thương tích đối với bị hại của bị cáo Phan Văn K xuất phát từ mâu thuẫn nhất thời trong gia đình, bị cáo không kiềm chế được sự nóng giận của bản thân nên đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Theo bị cáo trình bày việc sử dụng dao mục đích chỉ để đe doạ bị hại phù hợp với kết luận giám định đã xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình D tại thời điểm giám định là: 1% (Một phần trăm). Vật gây thương tích: Tổn thương nông vùng bụng phải do vật có cạnh nhỏ tác động kiểu sượt qua. Như vậy, hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ, không có động cơ đê hèn (động cơ đê hen là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm với động cơ rất xấu xa, thấp hèn, mang tính chất hèn nhát, bội bạc, phản trắc, ích kỷ ...đã thúc đẩy bị cáo phạm tội). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo là mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, không nhẹ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Văn K, bị hại anh Lê Đình D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 342, Điều 343, Điều 348; các điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Văn K.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Lê Đình D, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12, điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Văn K và bị hại anh Lê Đình D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND TP Huế;
  • - Công an thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA TP Huế;
  • - TAND quận Thuận Hoá;
  • - VKSND quận Thuận Hoá;
  • - Cơ quan THAHS CATP Huế;
  • - CC THADS quận Thuận Hoá;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: HSVA; Tòa HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trọng Cẩn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (phúc thẩm)

  • Số bản án: 72/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger