TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh và ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 05 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐ - ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị N, sinh năm 1994
HKTT: Thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Lã Vũ C, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.
(Chị N có đơn xin vắng mặt, anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Ngô Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lã Vũ C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 29/3/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh C một thời gian, đến đầu năm 2021 thì vợ chồng xây nhà ở riêng. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc tuy nhiên từ năm 2018 khi anh C đi lao động nước ngoài tại Nhật Bản thì vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do thời gian vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm dần phai nhạt và sự cảm thông cho nhau không còn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, không thể tìm được tiếng nói chung. Từ giữa năm 2023 mâu thuẫn giữa hai vợ chồng căng thẳng hơn, chị và anh C không còn liên lạc với nhau nữa. Đến nay chị cảm thấy cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng có quá nhiều bất đồng không thể hàn gắn, vì vậy chị làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lã Bảo An S ngày 21/4/2012, hiện đang sống cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh C phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh C thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh C không vay nợ ai, không đề nghị Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Lã Vũ C: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án cho bà Vũ Thị Ú (mẹ đẻ anh C) thông qua gia đình anh C, quan điểm của anh C đồng ý ly hôn với chị N nhưng anh C không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Tòa án.
* Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã D thể hiện: Chị Ngô Thị N và anh Lã Vũ C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng tự nguyện kết hôn và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ( nay là xã D) vào ngày 29/3/213 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống tại địa phương không xảy ra mâu thuẫn gay gắt, không thông qua hòa giải tại thôn, xã. Năm 2018 anh C đi lao động nước ngoài tại Nhật Bản, cuộc sống vợ chồng xa cách có thể là nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nay chị N làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh C, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết thủ tục ly hôn, con chung, tài sản của đương sự theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản ghi lời khai của bà Vũ Thị Ú (mẹ đẻ anh C) trình bày: Vợ chồng chị N anh C sau khi kết hôn có sống cùng bà một thời gian sau đó xây nhà ra ở riêng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tuy nhiên từ năm 2018 anh C đi lao động tại Nhật Bản một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng theo bà được biết chủ yếu xuất phát từ việc vợ chồng sống xa nhau, tình cảm và sự cảm thông chia sẻ với nhau không còn nên phát sinh nhiều bất đồng. Bà đã nhiều lần khuyên bảo hai vợ chồng để cả hai cùng suy nghĩ hàn gắn quan hệ vợ chồng, cùng nhau nuôi dạy con nhưng không có kết quả . Anh C đã biết việc chị N làm thủ tục ly hôn, quan điểm của anh C là nhất trí ly hôn, nhất trí để chị N nuôi con chung là cháu Lã Bảo A, nếu sau này chị N nuôi con không đảm bảo anh C cũng như gia đình bà sẽ đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và đón cháu A về nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Anh C đi lao động tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể bà không rõ nhưng anh C vẫn thường xuyên liên lạc với bà. Bà Ú đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và sẽ có trách nhiệm thông báo lại ngay nội dung cho anh C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Ngô Thị N được ly hôn anh Lã Vũ C, giao con cháu Lã Bảo An sinh ngày 21/4/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị N. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là anh Lã Vũ C có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh C đang cư trú tại Nhật Bản nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã D nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị N và anh C tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, mặt khác vợ chồng lại sống xa cách nhau, mỗi người một nơi nên không có tiếng nói chung và không còn tình cảm nên mục đích hôn nhân của chị N và anh C không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị N được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị N và anh C có 01 con chung là Lã Bảo An sinh ngày 21/4/2012. Chị N có nguyện vọng nuôi con chung, và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu A đang sống cùng chị N, nguyện vọng của cháu A là mong muốn được sống cùng mẹ. Hiện anh C đang ở nước ngoài thông qua gia đình anh C quan điểm của anh C nhất trí để chị N nuôi con vì hiện anh C đang ở nước ngoài không có điều kiện để chăm sóc con, do đó cần xử giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận việc chị N không yêu cầu C phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu, anh C không có lời trình bày về tài sản nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị N được ly hôn anh Lã Vũ C.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Lã Bảo An sinh ngày 21/4/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh C phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị N và anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
3. Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai số 0000457 ngày 10/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Ngô Thị N vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống lệ hợp lệ bản án, bị đơn anh Lã Vũ C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống lệ hợp lệ bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án ly hôn sơ thẩm số 72/2025
