Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 12 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung.

Bà Nguyễn Thị Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mai L, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố V, xã A, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Tầng D, số D, hẻm C, đoạn B, đường T, quận V, thành phố Đ, Đài Loan - Trung Quốc; xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Duy H, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố V, xã A, thành phố Hải Phòng; xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Chị L và anh H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 26/9/2019.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về tính cách và quan điểm. Do kinh tế gặp khó khăn nên sau đó chị L đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan - Trung Quốc. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhưng không có kết quả. Nay chị L nhận thấy: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do vậy chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019 hiện đang ở cùng anh H, chị L đề nghị giao con chung cho anh H nuôi dưỡng. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức mỗi tháng là 2.500.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.

Do chị L đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan - Trung Quốc, nên chị xin được vắng mặt tại phiên họp, hòa giải và phiên tòa xét xử.

Tại bản tự khai ngày 10/11/2025, bị đơn trình bày: Anh H thống nhất với ý kiến trình bày của chị L về thời gian, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Anh H xác nhận sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị L đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan - Trung Quốc. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh H đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019 hiện đang do anh H nuôi dưỡng, nên anh đề nghị được nuôi con và đồng ý với mức cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 2.500.000 đồng của chị L.

Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc cá nhân nên anh H xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị L được ly hôn với anh H.

Về con chung: Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019 cho anh H nuôi dưỡng, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức mỗi tháng là 2.500.000 đồng.

Về tài sản chung: Không đề nghị xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị L có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh H có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

[2] Về thủ tục uỷ quyền: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn uỷ quyền cho chị Đặng Ánh N, sinh năm 2003; địa chỉ: Số B ngõ D D, phường P, thành phố Hà Nội thực hiện các thủ tục tố tụng. Xét việc uỷ quyền thực hiện bằng văn bản, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thủ tục uỷ quyền, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc uỷ quyền này.

[3] Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị L và anh H tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét, chị L và anh H quá trình chung sống bất đồng về tính cách và quan điểm. Hiện tại, hai người đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị L có yêu cầu ly hôn, anh H cũng đồng ý. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Cao Thị Mai L được ly hôn với anh Hoàng Duy H.

[5] Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019. Chị L đề nghị giao con chung cho anh H nuôi dưỡng, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức mỗi tháng là 2.500.000 đồng, anh H cũng đồng ý. Xét thấy, chị L đang sinh sống và lao động tại Đài Loan - Trung Quốc, trong khi đó con chung đang do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy việc giao con chung theo yêu cầu của các bên là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, đảm bảo được quyền lợi của con cũng như quy định của pháp luật. Căn cứ vào các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các bên: Giao con chung Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019 cho anh H nuôi dưỡng, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức mỗi tháng là 2.500.000 đồng.

[6] Về tài sản chung: Chị L và anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chị L phải chịu án phí ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao.

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mai L được ly hôn với anh Hoàng Duy H.

- Về con chung: Giao con chung Hoàng Duy H1, sinh ngày 08/8/2019 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức mỗi tháng là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng/tháng). Thời hạn nuôi con và cấp dưỡng cho con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về án phí: Chị Cao Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Chị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003761 ngày 14/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị L còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo: Chị L và anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Lão, Tp Hải Phòng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Chỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị L và anh H.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger