|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Và Dưỡng và ông Biện Hữu Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý 541/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị M, sinh năm 1983.
Bị đơn: Anh Hoàng Thanh K, sinh năm 1979.
Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Chị M và anh K đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2024 và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003 nhưng đến năm 2009 mới đăng kết hôn tại UBND xã T. Quá trình chung sống vợ chồng với nhau hạnh phúc và nhưng đã xảy ra mẫu thẫn từ năm 2016. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh K không chăm lo làm ăn và có hành vi bạo lực đối với chị. Chị và anh K hiện đã sống ly thân và chị cũng không còn tình cảm với anh K. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Thanh K.
Về con chung: Chị và anh K có 03 con chung là Hoàng Khánh D - sinh ngày 25/10/2003, Hoàng Tuấn K1-sinh ngày 23/02/2005 và Hoàng Thị Khải H - sinh ngày 03/04/2011. Đối với cháu D, cháu K1 đã thành niên và có khả năng lao động được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị và anh K không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Do chị bận công việc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Đối với bị đơn anh Hoàng Thanh K:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do, cũng không nộp văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị M.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử, tống đạt văn bản tố tụng, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: Tòa án xác định đúng theo quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh K đã xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị M là có căn cứ nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Đối với cháu Hoàng Khánh D - sinh ngày 25/10/2003 và Hoàng Tuấn K1 - sinh ngày 23/02/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Hoàng Thị Khải H - sinh ngày 03/04/2011 thì đề nghị giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm thời anh K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Hà Thị M phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hà Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Thanh K đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về thẩm quyền: Bị đơn anh Hoàng Thanh K cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Chị Hà Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về luật áp dụng: Chị Hà Thị M và anh Hoàng Thanh K đăng ký kết hôn năm ngày 26 tháng 05 năm 2009 nên áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh K tự nguyện kết hôn, hôn nhân không vi phạm điều cấm của pháp luật, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 125, quyển số 01/2009 ngày 26/05/2009 nên được công nhận hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M: Qua xem xét trình bày của chị M, chứng cứ Tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị M và anh K thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương quan tâm chăm sóc nhau, anh chị không còn chung sống, không có khả năng đoàn tụ để tiếp tục chung sống. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy anh K và chị M không còn sống chung với nhau, đời sống chung vợ chồng đã chấm dứt, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng. Anh K được Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng không đến hòa giải, điều này chứng tỏ anh K không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nên có đủ cơ sở khẳng định vợ chồng chị M, anh K thật sự mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị M xin ly hôn với anh K là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 51, 53, 54, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Chị M và anh K có 03 con chung là Hoàng Khánh D - sinh ngày 25/10/2003, Hoàng Tuấn K1-sinh ngày 23/02/2005 và Hoàng Thị Khải H - sinh ngày 03/04/2011. Nay ly hôn, đối với cháu D, cháu K1 đã thành niên và có khả năng lao động được nên chị không yêu cầu tòa án giải quyết. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu H đang sinh sống cùng chị M và được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; cháu H là con gái và cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị M có công việc, thu nhập ổn định; anh K không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, không cung cấp tài liệu chứng cứ về điều kiện, khả năng nuôi dưỡng con chung. Do đó, giao con chung là cháu H cho chị M được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên tạm thời anh K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị M, anh K được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về án phí: Chị Hà Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 68, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M. Chị M được ly hôn với anh K.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thị Khải H - sinh ngày 03/04/2011 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn. Tạm thời anh K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị M chưa yêu cầu. Anh K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị M và anh K được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Hà Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số 0014890 ngày 23/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được chuyển thành tiền án phí. Chị M đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị M và anh Hoàng Thanh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Viển |
Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÀ HÀ THỊ M YÊU CẦU LY HÔN ÔNG HOÀNG THANH K
