|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Bà Thái Ánh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994.
- Bị đơn: ông Thái Hoài P, sinh năm 1992.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
(Bà T có mặt, ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà và ông Thái Hoài P quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 65 ngày 15/8/2019. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống vợ
chồng hạnh phúc. Dần về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, tính tình không hợp, hạnh phúc vợ chồng đổ vỡ, không thể hàn gắn. Hiện tại cả hai đã ly thân, không còn tình cảm với nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: bà trình bày có 01 con chung tên Thái Thị Mỹ D (nữ); sinh ngày 08/9/2016. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D đến khi thành niên (18 tuổi), không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Thái Hoài P vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được lời khai
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.
Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc sống vợ chồng bà T, ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng cự cãi, hạnh phúc vợ chồng đổ vỡ không thể hàn gắn, bà T xác định không còn tình cảm với ông P. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, đề nghị chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông P.
Về con chung: có 01 con chung tên Thái Thị Mỹ D (nữ); sinh ngày 08/9/2016. Hiện tại đang sống với bà T và cháu D cũng có nguyện vọng sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng
Về tài sản chung, nợ chung: không có, các bên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Với những phân tích nêu trên, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Thái Hoài P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà T, ông P được xác lập trên cơ sở tự nguyện; Sau khi kết hôn và sống chung, gia đình hạnh phúc, nhưng sau đó tính tình không hợp nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng cự cãi, hạnh phúc vợ chồng đổ vỡ không thể hàn gắn được đồng thời bà T xác định không còn tình cảm với ông P. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông P là phù hợp.
[3] Về con chung: bà T trình bày có 01 con chung tên Thái Thị Mỹ D (nữ); sinh ngày 08/9/2016, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng hiện tại cháu D đang sống với bà, đồng thời cháu cũng có nguyện vọng tiếp tục sống với bà khi cha mẹ ly hôn. Do đó yêu cầu của bà được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung thấy rằng: nguyên đơn trình bày không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét các mối quan hệ này.
Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt là có cơ sở.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí: Do đây là vụ án xin ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu T
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Thái Hoài P.
- Về con chung: nguyên đơn được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Thái Thị Mỹ D (nữ); sinh ngày 08/9/2016 đến khi thành niên (18) tuổi, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm con cho ông P theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí về tranh chấp hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002507 ngày 11/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Bà T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Văn Khải |
Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
