TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-03-2025 “V/v: Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường
Ông Trần Anh Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 378/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc “ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXX-ST ngày 06/03/2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị Đặng Hà M, sinh ngày 26/11/2000
Căn cước công dân số ********** do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/12/2021; Nơi cư trú: Số A L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Chị M có đơn xin vắng mặt.
Chị Đặng Hà M ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 2002 (Căn cước công dân số ********** do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/11/2021) giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Chị Lan A có mặt.
Bị đơn: Anh Chua Jin J, sinh ngày 02/08/1995
Hộ chiếu số K*******E do Bộ N cấp ngày 12/08/2022; Nơi cư trú: BLK 693 JURONG WEST CENTRAL 1 #09-103S (64036), SINGAPORE. Anh Chua Jin J có đơn xin vắng mặt.
Anh Chua Jin J ủy quyền cho anh Vy Thành C, sinh năm 1993 (Căn cước công dân số ********** do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/09/2022; Địa chỉ liên hệ: L, KĐT EuroWinDow R, Đ, Đ, Hà Nội) giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Anh C có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Hà M trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và anh C1 Jin Jun đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hà Nội vào ngày 17 tháng 01 năm 2020. Sau khi kết hôn, vì lý do công việc nên anh C1 Jin Jun về Singapore sinh sống và làm việc còn tôi ở Việt Nam cho đến nay. Do cuộc sống vợ chồng thường xuyên xa cách dẫn đến hai bên ít quan tâm đến nhau. Dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Chúng tôi đã không liên lạc với nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Chua Jin J.
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Cháu Chua Minh Đ, sinh ngày 21/04/2019. Hiện cháu đang sống cùng tôi. Ly hôn, chúng tôi thống nhất giao cháu Chua Minh Đ cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Chúng tôi tự thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Tôi tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với kết quả ủy thác cho bị đơn anh C1 Jin Jun: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh Chua Jin J.
Tại bản tự khai của anh Chua Jin J đã được Đại sự quán Việt Nam tại Cộng hòa Singapore hợp pháp hóa lãnh sự gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, anh trình bày: Tôi và vợ tôi là chị Đặng Hà M tự do gặp gỡ, quen biết với nhau từ năm 2018 trong thời gian chị M tới Singapore. Tuy nhiên vì điều kiện công việc bận rộn, đến năm 2020 tôi mới sắp xếp qua Việt Nam để kết hôn cùng chị M và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn được. Chúng tôi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hà Nội ngày 17 tháng 01 năm 2020. Sau khi kết hôn, vì lý do công việc, tôi phải trở lại Singapore sinh sống và làm việc, còn chị M vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam. Do cuộc sống vợ chồng thường xuyên xa cách, dẫn đến tình cảm hai bên dần lạnh nhạt, ít quan tâm đến nhau. Dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắng, nhưng đều không cách nào quay lại được như xưa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý, chị M đề nghị ly hôn, tôi đồng ý. Tôi đề nghị Tòa
2
án nhân dân thành phố Hà Nội sớm giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Đặng Hà M, đề cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Chua Minh Đ, sinh ngày 21/04/2019. Hiện cháu đang sống cùng chị M. Ly hôn, tôi đồng ý giao cháu Chua Minh Đ cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Chúng tôi tự thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện anh Chua Jin J đang sinh sống ở Singapore nên anh ủy quyền cho anh V Thành Công nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và anh xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa: Chị Đặng Hà M và anh C1 Jin Jun vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Lan A đồng ý nhận sự ủy quyền của chị Đặng Hà M là giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Chị Lan A cam kết thông báo và gửi để chị M được biết. Anh Vy Thành C đồng ý nhận sự ủy quyền của anh C1 Jin Jun là giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh C cam kết thông báo và gửi để anh Chua Jin J được biết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Hà M: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Hà M đối với anh Chua Jin J.
Về con chung: Giao con chung là cháu Chua Minh Đ, sinh ngày 21/04/2019 cho chị Đặng Hà M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Đặng Hà M và anh Chua Jin J không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết. Về tài sản chung: chị Đặng Hà M đối với anh Chua Jin J không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn. Nguyên đơn là chị Đặng Hà M cư trú tại số A L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, bị đơn là anh Chua Jin J quốc tịch Singapore, hiện nay đang sinh sống tại Singapore nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Hà M và bị đơn anh C1 Jin Jun vắng mặt và cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà M và anh Chua Jin J kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hà Nội vào ngày 17 tháng 01 năm 2020. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Hà M và anh C1 Jin Jun là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Cả hai anh chị cùng thừa nhận trong quá trình chung sống, bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Nhận thấy anh chị hiện đã sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể đoàn tụ. Chị Đặng Hà M xin ly hôn với anh Chua Jin J và được anh hoàn toàn đồng ý phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu cho chị Đặng Hà M được ly hôn anh Chua Jin J.
- Về con chung: Chị Đặng Hà M và anh Chua Jin J cùng thống nhất khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giao con chung cháu Chua Minh Đ, sinh ngày 21/04/2019 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, yêu cầu giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng của chị M và anh C1 Jin Jun là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, không ai yêu cầu nên cần ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Chị Đặng Hà M và anh C1 Jin Jun không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí, lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Đặng Hà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn và phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
4
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Căn cứ Điều 51, Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Hà M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà M được ly hôn anh Chua Jin J.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Chua Minh Đ, sinh ngày 21/04/2019 cho chị Đặng Hà M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng kể từ tháng 03/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh C1 Jin Jun đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh Chua Jin J có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình, lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Đặng Hà M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị M đã nộp theo Biên lai thu số 0023055 ngày 31/12/2024 và 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu số 0011491 ngày 06/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Đặng Hà M đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Hà M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Chua Jin J được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
5
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
6
7
Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Hà M - Chua Jin J
