Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 72/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 15-4-2025

V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chí Lin.
  2. Bà Trần Thị Đổi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn H) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1335/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang K, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ô Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 07/11/2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị Thùy T trình bày: Chị và anh Nguyễn Quang K sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 17/3/2020 chị và anh K chung sống được 5 năm. Đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vả, sống không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng không còn mang lại hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng đã rạn nứt khó mong hàn gắn. Nên chị xin được ly hôn với anh K, vì bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

Về con chung: Nguyễn Minh Â, sinh ngày 25/7/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 28/9/2021. Sau khi ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Minh  số tiền 1.500.000 đồng/tháng và cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Phúc T1 số tiền 1.500.000 đồng/tháng.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Quang K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt 02 lần tại phiên tòa không rõ lý do và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quang K, anh K hiện có hộ khẩu thường trú tại Ô khu B, thị trấn Đ, huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh K vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị T và anh K được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, chị T và anh K phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn với anh K, anh K không phản hồi ý kiến của chị T.

Xét thấy chị T và anh K chung sống với nhau, phát sinh mâu thuẫn nhưng Chị T và anh K không tự khắc phục được mâu thuẫn nên để mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ khi xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân tới nay, anh K cũng không tìm ra được biện pháp gì để vợ chồng được đoàn tụ, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử hôm nay, anh K cũng không đến, không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên chị T xin ly hôn với anh K là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh K.

[3] Con chung: Nguyễn Minh Â, sinh ngày 25/7/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 28/9/2021. Sau khi ly hôn chị T xin tiếp tục nuôi con. Xét thấy, cháu  và cháu T1 đang sống với chị T ổn định, hai cháu phát triển bình thường. Anh K cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị T xin nuôi con, nên thấy cần thiết để cho chị T tiếp tục nuôi cháu  và cháu T1 là phù hợp.

Chị T yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi đứa con số tiền 1.500.000 đồng/tháng, anh K không có ý kiến về mức cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không có cơ sở buộc anh K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung. Theo quy định pháp luật thì mức cấp nuôi dưỡng con bằng ½ mức lương cơ bản tối thiểu cho mỗi con là 1.170.000 đồng/tháng nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng của chị T, buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi đứa con 1.170.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.

[4] Tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Đối với anh K không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị T cũng không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thùy T đối với anh Nguyễn Quang K về việc “ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Quang K.

Việc nuôi con: Chị Trần Thị Thùy T được quyền tiếp tục nuôi hai con Nguyễn Minh Â, sinh ngày 25/7/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 28/9/2021, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi con là 1.170.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không xem xét giải quyết.

  1. Về án phí: Chị Trần Thị Thùy T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Chị T được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006497 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành. Anh K chịu 300.000 đồng án phí nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh K có trách nhiệm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND huyện Đức Hòa;
  • -TAND tỉnh Long An;
  • -UBND thị trấn Hậu Nghĩa;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger