|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST Ngày 04 – 4 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 709/2024/TLST–HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tăng Kiều N, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Đoàn Văn L, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Tăng Kiều N (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn L chung sống với nhau vào năm 2008, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không kết quả. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Văn L.
Về con chung: Chị xác định có 02 con chung tên Đoàn Văn K, sinh ngày 22/02/2009 và Đoàn Văn K1, sinh ngày 01/10/2011. Hiện tại, con đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị yêu cầu giao hai con cho anh L tiếp tục nuôi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Đoàn Văn L, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị Tăng Kiều N nhưng anh L không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Đoàn Văn L tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Tăng Kiều N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L, chị N theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị Tăng Kiều N với anh Đoàn Văn L là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Đoàn Văn L có địa chỉ cư trú tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Chị Tăng Kiều N và anh Đoàn Văn L chung sống với nhau vào năm 2008, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 61/2012 ngày 25/6/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị N yêu cầu được ly hôn với anh L, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không kết quả. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh L không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị N, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh L là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị N xác định có 02 con chung tên Đoàn Văn K, sinh ngày 22/02/2009 và Đoàn Văn K1, sinh ngày 01/10/2011. Hiện tại, con đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu giao hai con cho anh L tiếp tục nuôi và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ trước đến nay anh L nuôi dưỡng con cũng đã ổn định, sức khỏe vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, theo đơn nguyện vọng của con đề ngày 21/12/2024 cháu Đoàn Văn K và cháu Đoàn Văn K1 đều có nguyện vọng muốn sống với anh L, chị N cũng đồng ý giao hai con cho anh L tiếp tục nuôi và anh L cũng không có ý kiến gì khác nên yêu cầu của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N giao cháu Đoàn Văn K và cháu Đoàn Văn K1 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con và anh L không có ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tăng Kiều N.
- Về hôn nhân: Chị Tăng Kiều N được ly hôn với anh Đoàn Văn L.
- Về con chung: Giao cho anh Đoàn Văn L được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Đoàn Văn K, sinh ngày 22/02/2009 và Đoàn Văn K1, sinh ngày 01/10/2011. Chị Tăng Kiều N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Tăng Kiều N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tăng Kiều N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0018978 ngày 09/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Tăng Kiều N và anh Đoàn Văn L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Hằng |
Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 72/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tăng Kiều N được ly hôn với anh Đoàn Văn L
