Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 72 /2025/HNGĐ-PT

Ngày: 27-05-2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hồng

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2025/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2025/QĐXX-PT ngày 09/05/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1999

Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện tại: Thôn V, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Trịnh Văn V, sinh năm 2001

Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn là chị Lê Thị Kim A trình bày như sau:

- Về tình cảm: Chị và anh Trịnh Văn V có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, thành phố Hà Nội (ĐKKH số 51/2022). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau một thời gian chung sống chị Kim A nhận ra cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều mâu thuẫn không hợp nhau. Anh V không có trách nhiệm với gia đình không cùng chăm sóc con, không chu cấp đầy đủ nuôi con chung. Ngày 13/9/2024, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau anh V tát chị và đuổi chị ra khỏi nhà, giữ con chung lại. Chị Kim A đã phải về ở nhà bố mẹ tại Thôn V, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội từ ngày 13/9/2024, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị Kim A thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chị xác định không còn tình cảm với anh V nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn V. Hiện tại, chị Kim A đang ở trên nhà, đất của bố mẹ chị, chị hiện làm việc tại Công ty TNHH T với mức thu nhập trung bình hơn 6.000.000 đồng/tháng.

- Về con chung: chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V có 01 con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022. Hiện nay, cháu K đang ở cùng anh V do anh V giữ con không cho chị trực tiếp chăm sóc, chị đề nghị Tòa án giao con chung là cháu K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị Kim A không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn là anh Trịnh Văn V trình bày:

- Về tình cảm: Anh đồng ý với ý kiến của chị Kim A về quá trình kết hôn và chung sống sau khi kết hôn. Ngày 13/9/2024, Chị Kim A có hỗn láo với bố mẹ chồng nên anh V có đánh chị 01 cái tát và chị A bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại: Thôn V, xã T, huyện C từ đó cho đến nay, vợ chồng sống ly thân. Anh V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

- Về con chung: anh Trịnh Văn V và chị Lê Thị Kim A có 01 con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022. Anh V đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Kim A cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu tòa án giao con chung cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Với nội dung trên, Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A. Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với anh Trịnh Văn V.
  2. Về con chung: Giao con chung Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 cho chị Lê Thị Kim A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác, quyết định khác.

    Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trịnh Văn V. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) trên một tháng kể từ ngày chị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung theo Bản án có hiệu lực pháp luật. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Anh Trịnh Văn V có quyền, nghĩa vụ được đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung: Không xem xét.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Ngày 28/03/2025, anh Trịnh Văn V kháng cáo bản án sơ thẩm số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Lý do kháng cáo: Anh Trịnh Văn V đề nghị được nuôi dưỡng con chung là cháu Trịnh Văn K vì anh có nhà cửa và công việc ổn định hơn chị Kim A.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh Trịnh Văn V giữ nguyên nội dung kháng cáo. Chị Lê Thị Kim A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Qua phân tích tài liệu có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Trịnh Văn V. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Anh Trần Văn V1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim A thì quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Trịnh Văn V có địa chỉ thường trú tại thôn Đ, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn V1 nộp trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[3] Về nội dung:

Xét kháng cáo của anh Trần Văn V1 về việc không đồng ý giao cháu Trịnh Văn K cho chị Lê Thị Kim A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng lý do vì chị Kim A không có nơi ở và công việc ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Lê Thị Kim A và anh Trần Văn V1 có 01 con chung là cháu Trần Văn K1, sinh ngày 22/12/2022. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi con chung, đây là nguyện vọng chính đáng thể hiện tình cảm và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Nhận thấy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con chung cho ai nuôi phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Cháu K1 đến thời điểm xét xử mới được hơn 28 tháng nên rất cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Chị Kim A hiện nay đang sinh sống tại nhà của bố mẹ đẻ chị tại: Thôn V, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội và đi làm tại Công ty TNHH T1 với mức thu nhập ổn định hơn 6.000.000 đồng/tháng. Do vậy không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tại cấp phúc thẩm, anh V1 không đồng ý giao cháu K2 cho chị Kim A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ mới gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao cháu K1 cho chị Kim A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh V1 đề nghị thay đổi mức cấp dưỡng, chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng nếu chị Kim A được nuôi cháu K1. Chị Kim A không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng nuôi con chung, còn việc anh V1 tự nguyện cấp dưỡng là tùy vì đó là trách nhiệm của người làm bố. Hội đồng xét xử xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn là quyền cũng là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái. Sau khi xét xử sơ thẩm, anh V1 chỉ kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1, anh V1 không kháng cáo về mức cấp dưỡng nuôi con theo quyết định của bản án sơ thẩm. Mặt khác, tại cấp sơ thẩm anh V1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng nếu tòa án giao cháu K1 cho chị Kim A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Kim A không có ý kiến phản đối về đề nghị của anh V1. Do vậy, tòa án cấp sơ thẩm quyết định ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trịnh Văn V đối với cháu K1 4.000.000 đồng/tháng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Căn cứ vào các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Trịnh Văn V, giữ nguyên Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên anh V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn V1, giữ nguyên Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A. Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với anh Trịnh Văn V.
  2. Về con chung: Giao con chung cháu Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 cho chị Lê Thị Kim A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác, quyết định khác.

    Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trịnh Văn V. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) trên một tháng kể từ ngày chị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung theo Bản án có hiệu lực pháp luật. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Anh Trịnh Văn V có quyền, nghĩa vụ được đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung: Không xem xét.
  4. Án phí sơ thẩm: Chị Kim A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0062155 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
  5. Về án phí phúc thẩm: Anh Trịnh Văn V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0062390 ngày 31/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Chi Cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - TAND huyện Chương Mỹ;
  • - UBND xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/HNGĐ-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 72/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc P - Vũ Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger