|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/DSST
Ngày: 29/05/2025
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Thanh Trí.
- Ông Nguyễn Vũ Hải Đăng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 28 và ngày 29/05/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 98/2025/TLST/DS ngày 20 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2025/QĐST-DS ngày 05/05/2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S).
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đặng . Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Địa chỉ: Số A, đường P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền (Theo Quyết định ủy quyền số 1079/2025/QĐ-HĐTV ngày 15/02/2025 của Chủ tịch Hội đồng thành viên ngân hàng TNHH MTV S): ông Trần Xuân H – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Ông Trần Xuân H ủy quyền lại theo quyết định số 18/2025/QĐ-TGĐ ngày 16/02/2025 cho: Bà Nguyễn Thị Bạch N. Chức vụ: Giám đốc Phòng G. (SĐT: 02923818xxx). Có mặt
- Địa chỉ: Số D, đường P, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh H1, sinh năm 1966. Vắng mặt
- Chỗ ở hiện nay: Số C, khu vực T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Văn Đắt N1, sinh năm 1974. Vắng mặt
- Chỗ ở hiện nay: Số C, khu vực T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Hội liên hiệp phụ nữ phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện: Bà Lê Thị Cẩm C. Chức vụ: Chủ tịch hội. ( SĐT: 0939.586.xxx) Có đơn xin vắng mặt
- Địa chỉ: Số B khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của đại diện nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Bạch N trình bày:
Vào ngày 15/11/2020, bà Nguyễn Thị Ánh H1 có quan hệ tín dụng với ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh C1 – P như sau:
Mức duyệt vay: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), lãi suất trong hạn 10,5%/năm; Thời hạn vay: 06 tháng (từ ngày 15/11/2020 đến hạn ngày 15/07/2020); Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; Biện pháp đảm bảo: Tín chấp (không có tài sản đảm bảo). Trong quá trình giao dịch bà Nguyễn Thị Ánh H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã áp dụng các biện nhắc nhở, thông báo nhưng bà Nguyễn Thị Ánh H1 đã không thực hiện thanh toán đúng như thỏa thuận của hợp đồng. Tính đến hết ngày 25/11/2024 bà Nguyễn Thị Ánh H1 còn nợ các khoản sau: Vốn gốc: 6.860.000 đồng, lãi trong hạn: 150.000 đồng, lãi quá hạn tạm tính: 4.756.719 đồng (Tính đến hết ngày 29/10/2024). Tổng cộng: 11.766.719 đồng (Mười một triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm mười chín đồng).
Nay thấy quyền lợi bị ảnh hưởng nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau: Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H1 trả cho Ngân hàng Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S) tổng số tiền nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tính đến hết ngày 29/10/2024 là 11.766.719 đồng (Mười một triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn, bảy trăm mười chín đồng). Trong đó: Vốn gốc: 6.860.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng); Lãi trong hạn: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng); Lãi quá hạn tạm tính: 4.756.719 đồng (Bốn triệu, bảy trăm năm mươi sáu nghìn, bảy trăm mười chín đồng).
Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 29/10/2024 theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số: 0114331801T20207 được duyệt ngày 15/01/2020 cho đến khi thanh toán hết nợ vay.
* Phần trình bày của đại diện Hội liên hiệp phụ nữ phường L – bà Lê Thị Cẩm C:
Do bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt; nguyên đơn có đơn xin không tiến hành hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải mà phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Ánh H1, ông Văn Đắt N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S) tổng cộng số tiền 12.315.948 đồng (Mười hai triệu, ba trăm mười lăm nghìn, chín trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó, tiền gốc 6.860.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng), lãi trong hạn 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), lãi quá hạn 5.305.948 đồng (Năm triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, chín trăm bốn mươi tám đồng) tạm tính đến ngày 28/05/2025.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S) có quyền tính lãi tiếp tục theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số: 0114331801T20207 được duyệt ngày 15/01/2020 giữa nguyên đơn, bị đơn đã
ký từ ngày 29/05/2025 cho đến khi phía bà Nguyễn Thị Ánh H1, ông Văn Đắt N1 thanh toán dứt nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung vụ án:
- Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nên bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự trên phần nguyên đơn được chấp nhận và nguyên đơn phải chịu án phí trên phần không được chấp nhận.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà H1 và ông N1 phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Do bị đơn không thực hiện việc trả nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) đã ký nên nguyên đơn nhận thấy quyền lợi và lợi ích bị ảnh hưởng nên khởi kiện. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và quan hệ này được Bộ luật dân sự điều chỉnh, tranh chấp giữa các đương sự thuộc quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Mặc khác, bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H1 có địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận C, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Văn Đắt N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham dự tham dự phiên tòa. Tòa án đã làm thủ tục tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà H1, ông N1 theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội liên hiệp phụ nữ phường L, quận C có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà H1, ông N1 và đại diện Hội liên hiệp phụ nữ phường L là có cở sở.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Văn Đắt N1 phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 6.860.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 28/05/2025 theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) ngày 15/01/2020 mà các bên đã ký cho đến khi bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thanh toán dứt nợ.
Cở sở để nguyên đơn khởi kiện là hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00662122-0114331801T20207 ngày 15/01/2020 có chữ ký của nguyên đơn và bị đơn, đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 12/12/2019 có chữ ký của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Sau khi ký hợp đồng tín dụng cho vay trả góp nói trên với bị đơn, nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) cho bị đơn - bà Nguyễn Thị Ánh H1 theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp, đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn nói trên mà các bên đã ký kết và có lập danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày cho vay 15/01/2020 ngày đến hạn 15/07/2020 có chữ ký nhận của phía bà H1.
Nhận thấy, nội dung của hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00662122-0114331801T20207 ngày 15/01/2020 là sự thỏa thuận của các đương sự về số tiền vay, lãi suất vay, thời hạn vay, thời điểm trả nợ, phương thức trả nợ... phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, khi ký kết hợp đồng tín dụng cho vay trả góp người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trong quá trình thực hiện, nguyên đơn đã làm đúng theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng là đã giải ngân số tiền cho vay. Bà H1 có thực hiện thanh toán một phần nợ gốc và lãi cho nguyên đơn nhưng sau đó không tiếp tục thanh toán dẫn đến khoản nợ quá hạn, do bà H1 đã vi phạm thời hạn thanh toán, nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay nên ngân hàng đi khởi kiện. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà H1, ông N1 nhiều lần để cho ông N1, bà H1 có ý kiến trình bày về khoản nợ vay này nhưng ông N1, bà H1 vẫn không tham gia hòa giải, xét xử,... điều đó cho thấy ông, bà tự từ bỏ quyền lợi của mình. Do bà H1 người trực tiếp ký hợp đồng tín dụng và là người nhận khoản tiền vay nên phải là người có nghĩa vụ đối với số nợ đã ký nhận. Ngoài ra, việc bà H1 vay tiền từ nguyên đơn là nhằm mục đích kinh doanh mua bán bánh tét mà bà H1 với ông N1 là vợ chồng, ông N1 cũng biết rõ khoản vay nên ông N1 là người trực tiếp ký đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 12/12/2019 cùng với bà H1. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà H1, ông N1 cùng có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi suất cho ngân hàng là phù hợp nên chấp nhận.
Về phần lãi suất, ngân hàng yêu cầu tính lãi trong hạn 10,5%/năm và lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn và lãi phát sinh từ ngày 29/05/2025 cho đến khi bà H1, ông N1 thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp, đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn nói trên mà có chữ ký của các bên đã ký. Hội đồng xét xử xét thấy, mức lãi suất này các đương sự đã thỏa thuận theo nội dung hợp đồng tín dụng cho vay trả góp và mức lãi này phù hợp với quy định tại Điều 91, 94 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên chấp nhận. Đồng thời, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì bà H1, ông N1 phải tiếp tục chịu tiền lãi của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp cho đến khi thi hành án.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 149, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 117, Điều 119, Điều 318, Điều 385, Điều 398, Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị Ánh H1, ông Văn Đắt N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S) số tiền tổng cộng 12.315.948 đồng (Mười hai triệu, ba trăm mười lăm nghìn, chín trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó, tiền gốc 6.860.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng), lãi trong hạn 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), lãi quá hạn 5.305.948 đồng (Năm triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, chín trăm bốn mươi tám đồng) tạm tính đến ngày 28/05/2025.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH MTV S) có quyền tính lãi tiếp tục theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00662122-0114331801T20207 ngày 15/01/2020 giữa nguyên đơn, bị đơn đã ký từ ngày 29/05/2025 cho đến khi phía bà Nguyễn Thị Ánh H1, ông Văn Đắt N1 thanh toán dứt nợ.
Bà Nguyễn Thị Ánh H1, ông Văn Đắt N1 phải chịu 615.500 đồng (Sáu trăm mười lăm nghìn, năm trăm đồng). Nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004139 ngày 20/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
- Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THỊ HỒNG GẤM |
Bản án số 72/2025/DSST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 72/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
