|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2025/DSST-HNGĐ Ngày: 10/6/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU – TP CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Minh Phương
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
Thư ký phiên toà: Bà Võ An Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số 536/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1989
Địa chỉ: T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1979
Địa chỉ: Số C K, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, vào năm 2007. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc. Nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, nên thường xuyên xung đột. Nay tình cảm không còn nên nguyên đơn làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết các vấn đề:
- Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bị đơn.
- Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung Nguyễn Hoàng T1 (nam), sinh năm 2007 và Nguyễn Tuấn P (nam) sinh năm 2016, hiện các con đang sống cho với cha là ông L, do đó các con chung sẽ do ông Nguyễn Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/2con cho đến khi các con tròn 18 tuổi;
- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện và có yêu cầu giải quyết vắng mặt;
Bị đơn vắng mặt không lý do trong quá trình giải quyết nên không ghi nhận được ý kiến; Vụ án không thể hòa giải được.
Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
Vụ án được xét xử công khai.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không lý do.
Tòa án căn cứ vào Điều 328 của Bộ luật dân sự, xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Chủ tọa công bố lý do vắng mặt và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của các đương sự; Công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời trình bày của các bên; Công bố các chứng cứ do đương sự cung cấp.
Hội đồng xét xử thảo luận về các vấn đề của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn và bị đơn kết hôn có đăng ký, đúng theo quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn, tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ kiện là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn và nguyên đơn đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của tòa án nhưng nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của luật Tố Tụng Dân sự, xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Nội dung vụ kiện
[2.1] Về hôn nhân: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và tại biên bản làm việc, nguyên đơn đều trình bày cuộc sống hôn nhân của hai bên không hạnh phúc, do sự bất đồng về quan điểm, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân ngày càng gay gắt và không có tiếng nói chung. Nguyên đơn xác nhận, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của các đương sự là có thật và đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Các bên đã được tòa án tống đạt hợp lệ cácc văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa, cho thấy không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Nguyên đơn trình bày, có 02 con chung Nguyễn Hoàng T1 (nam), sinh năm 2007 và Nguyễn Tuấn P (nam) sinh năm 2016, hiện các con đang sống cho với cha là ông L, do đó các con chung sẽ do ông Nguyễn Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/1con chung cho đến khi các con tròn 18 tuổi;
Tại các bản tự khai, cháu T1 và cháu P cũng trình bày hiện các cháu sống với cha là ông L và mong muốn sau khi cha mẹ ly hôn, các cháu tiếp tục ở với cha.
Ông L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn và nguyện vọng của các cháu Tuấn P và T1, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày tài sản chung không có; nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Bị đơn vắng mặt nên tòa án không ghi nhận được ý kiến;
Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt, Hội đồng xét xử ghi nhận theo trình bày như trên. Tuy nhiên, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết thành một vụ kiện khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của Luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điều 39 Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự ;
Các Điều 51, Điều 56 và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng T đối với ông Nguyễn Hoàng L.
Con chung: Giao các con chung là Nguyễn Hoàng T1 (nam), sinh năm 2007 và Nguyễn Tuấn P (nam) sinh năm 2016, cho ông Nguyễn Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/1con chung cho đến khi các con tròn 18 tuổi;
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà Nguyễn Thị Hồng T không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích mọi mặt của cháu T1 và P, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, khi có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0001983 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều thành án phí, xem như nguyên đơn đã nộp xong.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa Phiên Tòa |
Nơi nhận:
- - VKSND quận Ninh Kiều;
- - Thi hành án quận Ninh Kiều;
- - TAND TP Cần Thơ;
- - UBND phường An Khánh ;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 72/2025/DSST-HNGĐ ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 72/2025/DSST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
