Hệ thống pháp luật

TAND TỈNH AN GIANG

TAND KHU VỰC 3 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 72/2025/DS-ST

Ngày 26-11-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Động

2. Ông Ngô Rô Be

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang. Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST- DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2025QĐST-DS ngày 19/9/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số : 85/2025QĐST-DS ngày 28/10/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2025/QĐST-DS ngày 07/11/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K.

Địa chỉ: Số D - D – 44, Phạm Hồng T, phường R, tỉnh An Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M. Chức vụ - Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V. Chức vụ: Giám đốc văn phòng đại diện Ngân hàng TMCP K tại thành phố Hồ Chí Minh (theo Quyết định số 68/QĐ – CT.HĐQT ngày 09/07/2024).

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng : Ông Phan Vũ Trường S, cán bộ xử lý nợ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1962 (Có mặt)

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1962 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Số G, tổ B, ấp P, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K đại diện theo ủy quyền ông Phan Vũ Trường S trình bày:

Nguyên bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T1 có vay của Ngân hàng TMCP K cụ thể như sau:

Khoản vay 1: Hợp đồng tín dụng từng lần số 0314/23/HĐTD/1013-03028 ngày 10/07/2023.

  • - Số tiền vay: 390.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu đồng)
  • - Dư nợ còn lại: 390.000.000 đồng
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn SXNN
  • - Ngày giải ngân: 11/07/2023
  • Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
  • - Lãi suất: 13,90%/năm, áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 03 tháng, kẻ từ ngày ký HĐTĐ và đến hết ngày 31/12/2023 hoặc kết thúc sớm hơn theo thông báo của bên cho vay. Các KUNN giải ngân sau thời gian này. Lãi suất vay bằng Lãi suất cơ bản ngắn hạn cộng (+) 3,60%/năm. Lãi suất vay được cố định trong 12 tháng kể từ ngày giai ngân theo từng KUNN.
  • Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  • Phạt chậm chậm trả lãi: 10%/năm.
  • Hình thức thanh toán: Lãi trả 06 tháng/ lần, Gốc trà cuối kỳ

Khoản vay 2:

Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0327/23/TC/1013-03028 ngày 14/07/2023 hạn mức thẻ: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

  • - Nợ gốc còn lại: 10.182.790 đồng
  • - Loại thẻ: JCB CREDIT CLASSIC
  • - Lãi suất vay: Theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ.
  • - Thời hạn vay: 36 tháng
  • - Mục đích vay: Tiêu dung
  • - Ngày mở thẻ: 18/07/2023.
  • - Phương thức trả nợ. Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm Thẻ tín dụng quốc tế.
  • - Điều kiện áp dụng: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm Thẻ tín dụng quốc tế.

Hợp đồng tín dụng thứ nhất được đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0314/23/HDTC-BDS/1013-3028 ngày 10/07/2023 đã được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 và được công chứng tại văn Phòng C, địa chỉ số B Khu phố Đ, TT T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 10/07/2023 và Đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 11/07/2023 tài sản thế chấp gồm:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 463739 (số vào số cấp GCN: CH00320) thửa 248, tờ bản đồ số 17-1. Diện tích 2.035,80 m², trong đó HLATGT 155,20 m² mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp P, xã T, tỉnh An Giang) do UBND huyện T cấp ngày 09/08/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị L tài sản gắn liền với đất theo hiện trạng thực tế.

Trong quá trình vay vốn Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T1 đã vi phạm hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và khách hàng cũng đã cam kết nhưng không thực hiện đúng cam kết.

Tạm tính đến ngày 26/11/2025, khách hàng còn nợ Ngân hàng số tiền cụ thể là:

Khoản mục Hợp đồng tín dụng từng lần số 0314/23/HĐTD/1013-03028 ngày 10/07/2023:

  • Vốn gốc : 390.000.000 đồng
  • Tiền lãi : 49.181.671 đồng
  • Tổng cộng: 439.181.671 đồng

Khoản mục: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0327/23/1013-03028 ngày 14/07/2023

  • Nợ gốc còn lại :10.182.790 đồng
  • Lãi phát sinh còn lại : 6.133.381 đồng
  • Phí phát sinh còn lại: 2.108.932 đồng
  • Tổng: 18.425.103 đồng

Tổng cộng hai khoản vay: 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng).

- Căn cứ hợp đồng tín dụng, Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 và Hợp đồng thế chấp đã ký kết;

- Căn cứ các quy định của pháp luật hiện hành.

Nay, Ngân hàng khởi kiện bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T1 gửi đến Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang yêu cầu xem xét, giải quyết các nội dung sau:

1. Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T1 trả cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0314/23/HDTD/1013-03028 ngày 10/07/2023 tiền lãi tính đến ngày 26/11/2025 là lãi quá hạn: 49.181.671 đồng, vốn gốc còn lại: 390.000.000 đồng.

Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0327/23/1013-03028 ngày 14/07/2023 Nợ gốc còn lại: 10.182.790 đồng; L1 phát sinh còn lại: 6.133.381 đồng; P phát sinh còn lại: 2.108.932 đồng.

Tổng cộng gốc, lãi 2 khoản nợ là: 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến thanh toán hết nợ.

2. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K. Sau khi Bản án Quyết định có hiệu lực pháp luật mà bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 0314/23/HDTC-BDS/1013-3028 ngày 10/07/2023 đề ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K, tài sản bao gồm:

- Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 463739 (số vào số cấp GCN: CH00320) thửa 248, tờ bản đồ số 17-1. Diện tích 2.035,80 m², trong đó HLATGT 155,20 m² mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay ấp P, xã T, tỉnh An Giang) do UBND huyện T cấp ngày 09/08/2011 được đăng ký biến động ngày 27/01/2015 và ngày 18/8/20223 đứng tên bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 để thu hồi nợ.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Qua lời trình bày của đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần K trình bày tại phiên tòa hôm nay về hợp đồng tín dụng và tài sản thế chấp như hợp đồng hai bên đã ký kết là đúng.

Bà L, ông T1 thừa nhận còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền Tổng cộng gốc, lãi 2 khoản nợ là: 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) hiện nay vợ chồng ông bà đang kêu bán đất để trả nợ Ngân hàng nhưng chưa thỏa thuận được giá nên chưa bán được, khi nào bán được đất ông bà sẽ trả dứt nợ cho Ngân hàng và yêu cầu Ngân hàng giảm phần lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng thương mại Cổ phần K khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L trả tổng số tiền là 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) tiền lãi tính đến ngày 26/11/2025 và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

4

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L có nơi cư trú tại: Số nhà G, tổ B, ấp P, xã T, tỉnh An Giang vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Hội đồng xét xử xét thấy trước đây ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L có đến Ngân hàng thương mại Cổ phần K có ký hợp đồng vay vốn cụ thể như sau:

Khoản vay 1: Hợp đồng tín dụng từng lần số 0314/23/HĐTD/1013-03028 ngày 10/07/2023.

  • - Số tiền vay: 390.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu đồng)
  • - Dư nợ còn lại: 390.000.000 đồng
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn SXNN
  • - Ngày giải ngân: 11/07/2023
  • Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.

Khoản vay 2:

Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0327/23/TC/1013-03028 ngày 14/07/2023 hạn mức thẻ: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

  • - Nợ gốc còn lại: 10.182.790 đồng
  • - Loại thẻ: JCB CREDIT CLASSIC
  • - Lãi suất vay: Theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ.
  • - Thời hạn vay: 36 tháng
  • - Mục đích vay: Tiêu dung
  • - Ngày mở thẻ: 18/07/2023.

[4] Xét giao dịch giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L được xác lập trên cở sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch dân sự trên là phù hợp với quy định pháp luật.

[5] Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng N đối với khách hàng vay và điểm b khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm số tiền lãi theo yêu cầu nêu trên, Ngân hàng đã áp dụng tính tiền lãi đúng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trong quá trình vay ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L đã và trả nợ gốc, việc ông T1, bà L không đóng lãi và trả nợ gốc cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L trả số tiền gốc, tiền lãi phát sinh theo 02 (Hai) hợp đồng tín dụng là có căn cứ phù hợp với quy định.

[6] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0314/23/HDTC-BDS/1013-3028 ngày 10/07/2023 đã được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 và được công chứng tại văn Phòng C, địa chỉ số B Khu phố Đ, TT T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang) ngày 10/07/2023 và Đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai liên xã T) ngày 11/07/2023 tài sản thế chấp gồm:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 463739 (số vào số cấp GCN: CH00320) thửa 248, tờ bản đồ số 17-1. Diện tích 2.035,80 m², trong đó HLATGT 155,20 m² mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay ấp P, xã T, tỉnh An Giang) do UBND huyện T cấp ngày 09/08/2011 được đăng ký biến động ngày 27/01/2015 và ngày 18/8/20223 đứng tên bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 tài sản gắn liền với đất theo hiện trạng thực tế.

[7] Xét về hình thức và nội dung hợp đồng thế chấp và thẩm quyền đăng ký thế chấp của hợp đồng nêu trên là phù hợp theo quy định tại các Điều 317,318,319,323,325 Bộ luật dân sự năm 2015. Có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 22, 26, 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Trong hợp đồng có giao kết về quyền và nghĩa vụ của các bên, điều kiện, thời hạn và phương thức xử lý tài sản thế chấp khi nghĩa vụ đến hạn mà người vay nợ không thực hiện. Do đó, Ngân hàng yêu cầu nếu bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 không tự nguyện trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Xét lời khai của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 cho rằng hiện nay vợ chồng ông bà đang kêu bán đất để trả nợ Ngân hàng nhưng chưa thỏa thuận được giá nên chưa bán được, khi nào bán được đất ông bà sẽ trả dứt nợ cho Ngân hàng và yêu cầu Ngân hàng giảm phần lãi suất. Việc ông T1, bà L xin trả dần không được Ngân hàng đồng ý, nên yêu cầu của ông T1, bà L không có cơ sở chấp nhận. Hơn nữa, trước đây Ngân hàng đã đồng ý để cho ông T1, bà L có thời gian thanh toán số tiền còn thiếu nhưng ông T1, bà L không thực hiện đúng theo thỏa thuận vì vi phạm nghĩa vụ.

Từ những cơ sở trên xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu bà Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn T1 trả tổng số tiền 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) tiền lãi tạm tính đến ngày 26/11/2025 và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Giá trị tài sản tranh chấp là: 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng).

Án phí tính như sau: 457.606.774đồng / án phí là 20.000.000đ (57.606.774đ x 4%) = 22.304.270 (Hai mươi hai triệu ba trăm lẽ bốn nghìn hai trăm bảy mươi đồng).

- Yêu cầu của Ngân hàng thương mại Cổ phần K được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu tiền án phí. Trả lại cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí 11.104.000đ (Mười một triệu một trăm lẽ bốn nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0013326 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. (Nay Phòng Thi hành án dân sự Khu Vực 3, tỉnh An Giang).

- Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 phải nộp số tiền án phí là 22.304.270 (Hai mươi hai triệu ba trăm lẽ bốn nghìn hai trăm bảy mươi đồng).

Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông T1, bà L không phải chịu án phí.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, , Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 317,318,319,323,325 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 99, 100 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024:

Điều 22, 26, 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Điểm b khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước đối với khách hàng vay. Và điểm b khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

7

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K.

2. Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K tổng số tiền là 457.606.774đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẽ sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) tiền lãi tạm tính đến ngày 26/11/2025.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Kể từ ngày bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K có trách nhiệm trả lại cho ông T1, bà L 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất chụ thể như sau:

Giấy chứng nhận QSDĐ Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 463739 (số vào số cấp GCN: CH00320) thửa 248, tờ bản đồ số 17-1. Diện tích 2.035,80 m², trong đó HLATGT 155,20 m² mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay ấp P, xã T, tỉnh An Giang) do UBND huyện T cấp ngày 09/08/2011 được đăng ký biến động ngày 27/01/2015 và ngày 18/8/20223 đứng tên bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 đứng tên chủ sở hữu.

4. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số số 0314/23/HDTC-BDS/1013-3028 ngày 10/07/2023 đã được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 và được công chứng tại văn Phòng C, địa chỉ số B Khu phố Đ, TT T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang) ngày 10/07/2023 và Đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai liên xã T) ngày 11/07/2023 được đăng ký biến động ngày 27/01/2015 và ngày 18/8/20223 đứng tên bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 để thu hồi nợ.

5. Về Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Trả lại cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí 17.046.000đ (Mười bảy triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0008311 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – An Giang).

Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông T1, bà L không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại Cổ phần K, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang
  • - VKSND Khu vực 3;
  • - Phòng Thi hành án DS khu vực 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Vũ

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 72/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Kiên Long yêu cầu ông Thu, bà Láng trả cho Ngân hàng số tiền là 457.606.774đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger