Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-PT

Ngày: 14 – 4 – 2025

V/v “T/c quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải

Các Thẩm phán:

Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

Bà Lê Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 28/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà La Thị N; Địa chỉ Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N1; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn:

  1. Ông Đặng Hùng C; Địa chỉ Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  2. Bà Đồng Thị Thu T; Địa chỉ Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trường tiểu học C1; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N2 - Chức vụ: Hiệu trưởng Trường tiểu học C1.

  2. Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Minh K - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  3. Ông Nguyễn Văn T1; Địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
  4. Bà Nguyễn Thị L Địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
  5. Bà Nguyễn Thị T2; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà L, bà T2: Ông Nguyễn Văn N1; Địa chỉ ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  6. Bà Nguyễn Thị P; Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  7. Bà Nguyễn Thu H; Địa chỉ: Số B, kênh C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  8. Bà Nguyễn Thị N3; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  9. Ông Nguyễn Văn N1; Địa chỉ: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người kháng cáo: nguyên đơn bà La Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thu H, ông Nguyễn Văn N1 đều thống nhất trình bày: Khoảng năm 1983 chồng bà La Thị N là ông Nguyễn Văn T3 (mất năm 2019) được cơ quan có thẩm quyền giao cho gia đình phần đất từ kênh L đến kênh bờ Tràm có diện tích ngang 30m, dài 500m, tổng diện tích là 15.000m2 trong đó có phần đất nghĩa trang, đất tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Cần Thơ nay là ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang để ở và sản xuất nông nghiệp. Khi giao đất cơ quan có thẩm quyền thì có nói nếu nghĩa trang M thì nhà nước sẽ lấy lại phần đất được giao mà không có bồi thường, còn trường hợp mà nghĩa trang B đi hết thì ông T3 được tu bổ phần đất này để sử dụng. Đến năm 1995 thì nhà nước lấy 1 phần đất nghĩa trang ngang 30m, chiều dài là 53m để xây dựng trường Tiểu học C1. Phần đất còn lại thì gia đình nguyên đơn vẫn sử dụng ổn định.

Đến năm 1996 bà Đồng Thị Thu T là giáo viên trường tiểu học C1 2 nay là giáo viên trường tiểu học C1 có thuê phần đất ven sông của gia đình nguyên đơn để xây dựng nhà ở có diện tích ngang 4m, dài 10m, tổng diện tích 40m², với giá thuê là 200.000đồng/năm. Khi cho thuê chỉ nói miệng mà không có làm giấy tờ gì hết. Năm 1999 bà T lập gia đình với ông Đặng Hùng C cùng sinh sống trên phần đất đã thuê của gia đình nguyên đơn trước đó, tuy nhiên bà T, ông C không tiếp tục trả tiền thuê đất. Gia đình nguyên đơn cũng đã nhiều lần yêu cầu bà T, ông C trả tiền thuê đất nếu không tiếp tục trả tiền thuê thì gia đình nguyên đơn yêu cầu di dời nhà trả lại đất nhưng bà T, ông C vẫn cố ý không thực hiện mà còn xây dựng nhà kiên cố lấn chiếm thêm sang phần đất của gia đình nguyên đơn với chiều ngang khoảng 6m, dài khoảng 10m, tổng diện tích 60m².

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đặng Hùng C và bà Đồng Thị Thu T trả lại phần đất thuê diện tích là 40m² và phần đất lấn chiếm thêm 60m² cho gia đình nguyên đơn quản lý, sử dụng. Đồng thời, buộc ông Đặng Hùng C và bà Đồng Thị Thu T tháo dỡ, di dời nhà, công trình, vật kiến trúc, cây trồng trên đất.

Đối với kết quả đo đạc thẩm theo Mảnh trích đo địa chính số 300/SHC ngày 14/6/2022 thì nguyên đơn yêu cầu sử dụng kết quả đo đạc thẩm định này của vụ án trước để giải quyết vụ án. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn phần đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc có diện tích 114,2m².

Bị đơn Đặng Hùng C, Đồng Thị Thu T đều thống nhất trình bày: Trước đây năm 1997, chị T được điều động về công tác tại trường tiểu học C1 (nay là Trường tiểu học C1). Do không có nhà ở công vụ Ban giám hiệu nhà trường là (anh Phạm Văn N4 là hiệu trưởng lúc bấy giờ) và chính quyền địa phương ấp M, tạo điều kiện cho chị T cất nhà ở phần đất dưới mé sông thuộc trường quản lý để ở thuận tiện cho công tác. Chị T phải mướn người lặn đất thùng nâng nền lên cao cất nhà ở đồng thời trông coi luôn điểm trường. Đến năm 1999 chị T lập gia đình với anh C; vợ chồng có sang lấp thêm phần đất trống để trồng trọt một số hoa màu và cây dừa để che bóng mát, không cho cỏ mọc hoang dại. Đến năm 2015, bị đơn có xin phép chính quyền địa phương tu sửa lại căn nhà đã xuống cấp; Quá trình sửa chữa nhà không có ai tranh chấp gì về đất ở. Đến năm 2019, bị đơn được Ủy ban nhân dân huyện P cấp (giấy phép sửa chữa, cải tạo nhà ở có thời hạn); Quá trình sửa chữa xây dựng nhà ở cũng không có ai tranh chấp gì về đất ở.

Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng bị đơn thuê đất của nguyên đơn để ở là không có, do đất này là đất của nhà nước, của trường nên bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện P trình bày: Việc giao đất theo quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 1987 thì thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh. Đối với phần đất tranh chấp theo hệ thống bản đồ 205 thì không hình thành thửa đất, theo bản đồ chính quy năm 2014 thì có hình thành thửa đất số 33, do ông Nguyễn Văn N1 kê khai nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trường Tiểu học C1 trình bày: Ông là Nguyễn Văn N2 hiện đang giữ chức vụ là Hiệu trưởng trường tiểu học C1, ông về trường công tác từ ngày 23/11/2018. Khi ông về công tác đã phát hiện có nhà của ông C và bà T. Về nguồn gốc phần đất qua tìm hiểu từ ông Phạm Văn N4 nguyên hiệu trưởng của trường trước đây thì xác định là đất của nhà trường, trước đây phần đất mé sông là phần đất trống, cây cối mọc um tùm, do ông C, bà T không có chỗ ở nên nhà trường mới cho ở phần đất ven kênh. Hiện đối với phần đất của nhà trường cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Người làm chứng Nguyễn Văn Ú trình bày: Ông làm hiệu trưởng ở trường tiểu học C1 từ năm 2008 đến năm 2018. Theo ông được biết từ ông Phạm Văn N4 nguyên hiệu trưởng của trường trước đây kể lại, phần nhà mà ông C, bà T đang ở là của nhà trường, do thời điểm đó, ông C, bà T là giáo viên của trường nhưng không có chỗ ở, nên trường tạo điều kiện cho ở trên phần đất mé sông, đối diện nhà trường.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn La Thị N yêu cầu bị đơn Đặng Hùng C và Đồng Thị Thu T phải trả lại phần đất có diện tích 114,2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 300/SHC ngày 14/6/2022 của Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 (Có lược đồ kèm theo).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, thẩm định và trích lục hồ sơ và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn bà La Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tháo dỡ nhà và công trình trên đất có diện tích 114,2m², bị đơn không đồng ý vì cho rằng phần đất không phải của nguyên đơn mà của Trường tiểu học C1, khi nào nhà trường có yêu cầu thì bị đơn sẽ di dời nhà và trả đất. Về nguồn gốc phần đất theo trình bày của nguyên đơn là do ông Nguyễn Văn T3 được nhà nước giao vào năm 1983, đến năm 1992 thì Nhà nước yêu cầu làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T3 có làm đơn và được ông Nguyễn Tấn V làm Bí thư xã H (cũ) xác nhận để làm thủ tục cấp giấy. Ông T3 đã được cấp giấy tạm phần đất phía sau trường học. Phần đất của Trường học và phần đất ven kênh thì chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và khi giao đất có nói nếu khi nào Nhà nước có nhu cầu sử dụng thì sẽ trả lại đất. Đến năm 1995 khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng trường thì gia đình nguyên đơn không có ý kiến, không có khiếu nại hay yêu cầu gì. Lời trình bày của nguyên đơn là phù hợp với công văn số 714/UBND-NC ngày 22/3/2024 của UBND huyện P xác định khi tiến hành xây dựng Trường tiểu học C1 2 trên phần đất này thì không ban hành quyết định thu hồi đất. Về phần đất ven kênh theo văn bản trả lời số 1658/UBND-NC ngày 21/8/2024 của UBND huyện P xác định thẩm quyền giao đất là của UBND cấp huyện nên nguyên đơn cho rằng UBND xã H (cũ) giao đất là không đúng thẩm quyền theo quy định. Và theo văn bản trả lời số 1807/UBND-NC ngày 28/7/2024 của UBND huyện P thì phần đất ven kênh chưa được kê khai, đăng ký. Nguyên đơn cho rằng bị đơn thuê đất nhưng không đưa ra chứng cứ chứng minh. Bị đơn sinh sống lâu dài trên phần đất này và có xin phép xây dựng, sửa chữa nhà được UBND huyện đồng ý. Nguyên đơn cho rằng là đất của nguyên đơn nhưng hiện tại phần đất này nguyên đơn vẫn chưa được cấp giấy nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét nguyên đơn kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm; Tuy nhiên tại phiên toà nguyên đơn không chứng minh lỗi vi phạm tố tụng của cấp sơ thẩm; Tại phiên toà nguyên đơn chỉ trình bày nội dung về nguồn gốc đất và cho rằng phần đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp năm 1983; Đến năm 1996 cho bà Đồng Thị Thu T là giáo viên trường tiểu học C1 thuê để xây dựng nhà ở có diện tích ngang 4m, dài 10m, tổng diện tích 40m², với giá thuê là 200.000đồng/năm, sau đó vợ chồng bà T lấn thêm phần đất ngang 6m, dài 10m, có diện tích là 60m²; Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất.

[2] Đối với kết quả đo đạc thẩm theo Mảnh trích đo địa chính số 300/SHC ngày 14/6/2022 thì nguyên đơn và bị đơn đều thống theo kết quả đo đạc có diện tích 114,2m². Đối với phần đất tranh chấp, xét thấy, theo văn bản trả lời số 1658/UBND-NC ngày 21/8/2024 của Ủy ban nhân dân huyện P xác định theo quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 1987 thì thẩm quyền giao đất là của Ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh. Nên việc nguyên đơn cho rằng Ủy ban nhân dân xã H (cũ) giao đất là không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao đất. Đồng thời, trong quá trình sử dụng đất trước năm 1983 đến nay nguyên đơn cũng không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, theo văn bản trả lời số 1807/UBND-NC ngày 28/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P xác định phần đất ven kênh X, phía trước Trường tiểu học C1 theo bản đồ địa chính 205 thì không hình thành thửa đất, đến bản đồ chính quy năm 2014 có hình thành thửa đất số 33 do ông Nguyễn Văn N1 kê khai, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, phần đất tranh chấp ven kênh trước đây chưa được kê khai, đăng ký. Đến năm 2014, ông N1 mới đứng ra kê khai phần đất này, cho nên lời trình bày của nguyên đơn cho rằng phần đất này trước đây đã được cấp cho gia đình nguyên đơn là không có cơ sở.

[5] Đối với nội dung khởi kiện cho rằng, gia đình nguyên đơn cho bị đơn bà Đồng Thị Thu T thuê đất vào năm 1996 là 40m² và chiếm thêm 60m². Lời trình bày của nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hay giấy tờ nào thể hiện việc cho thuê cũng như trả tiền thuê, không chứng minh quá trình ngăn cản hay khiếu nại việc chiếm đất của bị đơn, không chứng minh quyền của chủ sử dụng đất được Nhà nước công nhận; Trong khi đó nguyên đơn thừa nhận bị đơn về ở và sinh sống trên phần đất từ năm 1996 và bị đơn cũng chứng minh vào năm 2018, bị đơn có xin giấy phép sửa chữa, cải tạo nhà ở có thời hạn, khi đó đã được Ủy ban nhân dân huyện P có văn bản cho phép sửa chữa ngày 27/02/2019. Đến năm 2020, đây là thời điểm Nhà nước thu hồi đất để mở rộng tỉnh lộ 927 phần đất ven kênh L của ông C, bà T thể hiện tại biên bản kiểm kê ngày 08/11/2021 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện xác định phần đất là của Trường tiểu học C1 (đất do nhà nước quản lý) do đó, đơn vị làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng không có cơ sở trình cấp có thẩm quyền bồi thường. Đồng thời, tại Công văn số 714/UBND-NC ngày 22/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện P thì xác định theo ý kiến của Hiệu trưởng trường tiểu học C1 thì phần đất ven kênh xáng Lái Hiếu thuộc quản lý của trường.

[6] Từ những phân tích trên, cho thấy nguyên đơn không chứng minh được phần đất do bà T, ông C đang quản lý sử dụng thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn được Nhà nước công nhận, nên nguyên đơn chưa có đầy đủ quyền khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất để đòi lại đất nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở; Do đó kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận. Có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn La Thị N.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn La Thị N được miễn theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 14/4/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 72/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 11 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn bà La Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger