Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-PT.

Ngày: 10/3/2025.

“V/v Tranh chấp QSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường;

Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Minh Trang;

Bà Nguyễn Thị Kim Hường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án sơ thẩm số: 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T (Thắng A), sinh năm 1960;

Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.

Ông T, ông H, bà T1, bà N có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (T) trình bày:

Ông T có 01 phần đất diện tích 33.000m² nằm ở trên lộ, tọa lạc ở ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Hiện tại ông T đang nuôi tôm, phần đất liền với phần đất của ông có 01 đường nước chạy dài ra sông C chiều ngang 1,5m. Trong lúc ông T đi thành phố làm thì ông H đắp đường nước lại (đắp đoạn đường nước gần sông C) không cho ông sử dụng. Ông T xác định đất tranh chấp chưa được cấp giấy cho ông và cũng chưa được cấp giấy cho ông H.

Về nguồn gốc đất: Trước đây ngoại ông là Huỳnh Thị T2 (đã chết) mua lại của ông P (đã chết) là phần đất trên lộ, khi sang có đường nước sẵn cặp bên đất ông H, bà ngoại ông không có nhận chuyển nhượng đường nước này nhưng quá trình sử dụng đất trên lộ thì vẫn có sử dụng đường nước trên. Đường nước từ mé sông chạy tới hậu đất, phần đất bà ngoại cho ông là phần đất trên lộ giáp hậu đất cặp đất ông D, đất ông D chạy thẳng ra sông, ông sử dụng đất trồng khoai, trồng khóm, sau này mới múc vuông nuôi tôm.

Ông D đào đường mương có chiều ngang khoảng 1m, toàn bộ phần đất đào đường mương được đắp lên phần đất liền kề của ông tạo thành cái bờ ngang 1,5m, dài 30m tính từ mé sông chạy lên lộ, toàn bộ cái bờ 1,5m ngang là của ông. Năm 2000, ông với ông 3 Khải thỏa thuận đổi đất, cụ thể phần đất cái bờ ngang 1,5m ở mé sông của ông đổi đất với ông K là đường nước ngang 1,5m, chạy dài 300m ở trên lộ (ông nhận phần đất của ông K là đường nước trên lộ; ông giao cái bờ chiều ngang 1,5m x dài 30m của ông dưới mé sông cho ông K sử dụng). Quá trình sử dụng đất trước đó là ông D chuyển nhượng cho ông K, ông K chuyển nhượng lại cho ông M sử dụng. Trong năm 2000 sau ngày ông đổi đất với ông K khoảng 4 tháng, phần đất trên lộ ông có nhu cầu chuyển sang nuôi tôm nên ông có xin ông H luôn đường nước để cho xe cuốc vào múc vuông của ông. Việc ông xin đường nước nêu trên thì được vợ chồng ông H đồng ý cho luôn phần đất ở dưới mé sông, việc cho đất không có giấy tờ gì, chỉ nói bằng miệng.

Nay ông yêu cầu bị đơn ông H tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất có chiều ngang một cạnh 1,87m và 1,99m, chiều dài một cạnh 5,56m và 5m, trả lại phần đất cho ông có diện tích đo đạc thực tế là 167,7m², có tứ cận: Cạnh giáp sông Cái lớn 3,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B 22,26m; cạnh giáp lộ liên ấp 8,68m+2,69m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng là 22,75m. Đất toạ lạc tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn ông Trương Thanh H trình bày:

Trước đây ông nhận chuyển nhượng đất của ông Phạm Văn N1 là phần đất trên lộ cặp đất ông D cũng có đường nước sẵn, ông không biết đường nước của ai khi sang đất thì thấy có sẵn đường nước, hiện tại đường nước từ lộ trở lên vẫn còn do ông T sử dụng (phần đường nước này không tranh chấp) và ông mua phần đất dưới mé sông từ lộ trở xuống biền lá cập đất ông D. Quá trình sử dụng đất năm nào không nhớ thì phía đất ông D trồng khóm do phía trên lộ có cái đường mương để vận khóm ngang 1,5m, dài 500m, còn phần dưới mé sông giữa ông với ông D đều là biền lá nên khi nước lớn thì mực nước được khoảng 05 tấc nước, còn khi nước ròng mực nước khoảng 3 tấc do đó rất khó để vận chuyển khóm ra sông Cái Chanh nên phần đất ông D có đào 01 đường nước từ sông C vô đắp thành cái bờ ngang 1,5m, dài 15m tính từ sông C vô mé lộ. Ông De đắp bờ đất 1,5m ngang trong phạm vi đất của ông D không có qua phần đất biền lá của ông, cặp phần đất của ông D và phần đất của ông thì không có đất nào là của ông T. Hiện nay phần đất ông D đã chuyển nhượng cho người khác thì phần cái bờ, cái mương đều đã lấp lại không còn hiện trạng như trước đây.

Khoảng năm 2000, ông Võ Văn T3 (nông dân ấp thời điểm đó) đến hỏi vợ chồng ông để cho xe cuốc vô múc đất lên làm lộ, xin hỏi múc phần đất bên phần đất biền lá của ông giáp với đất ông D để lấy đất làm lộ, ông thống nhất nên cho múc đường nước khoảng 04m ngang, chiều dài từ mé kênh Cái Chanh chạy vô tới lộ khoảng 15m. Sau này ông T3 muốn nuôi tôm phần đất của ông ở phía trên lộ nên có hỏi ông mượn đường nước phần đất giáp ông D tính từ kênh C chạy vô tới lộ để cho xe cuốc vào múc phần vuông của ông T3 phía trên lộ, do tình nghĩa xóm làng nên ông cho ông T3 mượn đường nước cho xe cuốc vô cuốc vuông ông T3 chứ không cho đất ông T3, đến khi ông T3 nuôi vuông ông vẫn đồng ý cho ông T3 đặt ống bọng xả nước ra vô trên phần đất trên một thời gian. Đến khoảng 4-5 năm gần đây thì ông T3 cho người khác thuê đất và vẫn sử dụng con mương này làm đường dẫn nước nên ông có điện nói với ông T3 đường nước này ông lấy lại cho thuê không cho mượn nữa, ông T3 không đồng ý thuê nên ông đã đắp đập lại không cho nước chảy ra vô từ đó xảy ra tranh chấp.

Nay ông không đồng ý tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất chiều ngang một cạnh 1,87m và 1,99m, chiều dài một cạnh 5,56m và 5m, không đồng ý trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7m², có tứ cận: Cạnh giáp sông Cái lớn 3,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B 22,26m; cạnh giáp lộ liên ấp 8,68m+2,69m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng là 22,75m. Đất toạ lạc tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị N trình bày:

Thống nhất lời trình bày của chồng bà là ông T3 vì khi bà về làm dâu năm 1983-1984 đã có đường nước sẵn, phần đất của vợ chồng bà phía trên lộ khoảng 33.000m² đã có sẵn đường nước từ mé sông chạy vô phần đất vợ chồng bà ngang 1,5m nên vợ chồng cứ xài đường nước sẵn đó. Đến năm 2000, vợ chồng làm vuông thì có kêu xe cuốc vô để múc vuông nhưng do chiếc xe cuốc lớn hơn so với đường nước có sẵn không vô được nên vợ chồng bà có xin vợ chồng ông H để múc đường nước cho xe cuốc vô cuốc vuông của bà phía trên lộ, lúc đó vợ chồng ông H đồng ý cho vợ chồng bà luôn đường nước.

Nay ông H đã đắp bờ đất chiều ngang (1,87m và 1,99m); chiều dài (5,56m và 5m) không cho nước chảy ra vào là không thống nhất nên bà đồng ý thống nhất yêu cầu của ông T3 buộc ông H tháo dỡ con đập đã đắp lại, trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7m², có tứ cận: Cạnh giáp sông cái lớn 3,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B 22,26m; cạnh giáp lộ liên ấp 8,68m+2,69m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng là 22,75m.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Vợ chồng bà mua đất của ông Phạm Văn N1 hết một miếng đất không nói ngang dài bao nhiêu có tứ cận một bên giáp ông B1, một bên giáp ông T4, một bên giáp ông P, một đầu giáp ông D, mặt tiền giáp sông Cái Chanh, phần đất tôi mua có dạng chữ L, giá bao nhiêu không nhớ vì thời gian lâu quá. Lúc mua là không có con mương nước ra sông, sau đó thì ông Võ Văn T3 (làm chính quyền ở địa phương) hỏi xin vợ chồng bà cho múc con mương để xe cuốc vô múc làm đường lộ, con mương chiều ngang 4m, chiều dài khoảng 12 mét. Sau khi có đường nước thì vợ chồng ông T3 có hỏi mượn đường nước cho xe cuốc vô để múc vuông của ông T3 phía trên lộ, vợ chồng bà chỉ cho mượn đường nước chứ không có cho đất như vợ chồng ông T3 trình bày. Nay không thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T3.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã tuyên:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (Thắng A) về việc tranh chấp QSD đất đối với bị đơn ông Trương Thanh H.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T buộc bị đơn ông Trương Thanh H tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất có chiều ngang một cạnh 1,87m và 1,99m, chiều dài một cạnh 5,56m và 5m.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T buộc bị đơn ông Trương Thanh H trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7m² theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 126-2022 ngày 22/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V. Đất có vị trí tứ cận: Cạnh giáp sông Cái lớn từ điểm 3 đến điểm 10 = 3,69m; cạnh giáp lộ liên ấp gồm từ điểm 11 đến điểm 12 = 8,68m và điểm 12 đến điểm 4 = 2,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B từ điểm 10 đến điểm 11 = 22,26m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng từ điểm 4 đến điểm 3 = 22,75m. Đất toạ lạc tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 23/9/2024, ông Nguyễn Văn T kháng cáo với nội dung:

Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận theo hướng buộc ông H tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất chiều ngang (1,87 m và 1,99 m); chiều dài (5,56m và 5 m) và trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7 m² cho ông T. Phần đất có tứ cạnh: Cạnh giáp sông Cái Lớn 3,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B 22,26m; cạnh giáp lộ liên ấp 8,68m + 2,69m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng 22,75m. Đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

- Bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

+ Về nội dung: Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 – Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục:

Nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định và thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2].Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trương Thanh H phải tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất có chiều ngang một cạnh 1,87 m và một cạnh 1,99 m; chiều dài một cạnh 5,56 m và một cạnh 5m; trả lại cho ông phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 167,7m². Ông T cho rằng phần đất này có nguồn gốc từ bà ngoại ông tên Huỳnh Thị T2 (đã chết) tặng cho ông, bà T2 nhận chuyển nhượng đất của ông P (đã chết), khi sang đất có đường nước sẵn cặp bên đất ông H, không có sang đường nước nhưng có sử dụng đường nước. Năm 2000 khi ông chuyển sang nuôi tôm nên xin ông H đường nước cho xe cuốc vào thì ông H cho luôn đường nước ông sử dụng nên nay xác định đất là của vợ chồng ông.

Về phía ông H không thừa nhận đã cho ông T phần đất tranh chấp như ông T trình bày và ngoài lời khai được cho đất ông T cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh về việc này. Theo ông T trình bày trước đây có đổi đất là đường nước với ông Trần Văn K để lấy con mương trên lộ của ông K và giao con mương dưới mé sông của ông cho ông K nhưng cũng không có chứng cứ xác thực về nguồn gốc từ đâu ông có con mương dưới mé sông để trao đổi với ông K.

Mặt khác, lời trình bày của ông T có sự mâu thuẫn, không phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người hiểu biết sự việc và tài liệu đã được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án:

  • Lời khai của ông Bành Văn D khai rằng ông từng mua đất của ông Lý Văn H1 vào năm 1980, sau đó chuyển nhượng lại cho ông K vào năm 1997. Khi mua đất, trên phần đất này đã có một bờ ngang và phần đường nước giáp bờ thuộc về ông Trương Thanh H, không phải của ông T.
  • Ông Hồ Minh E xác nhận vào năm 2010, ông nhận chuyển nhượng đất từ ông K, trong đó có phần bờ ngang và đường nước tranh chấp. Khi đó, bị đơn ông H đã sử dụng đường mương này từ trước.
  • Ông Võ Văn T3 cũng xác định phần đất biền lá dưới mé sông là của ông H nhận chuyển nhượng của ông N1, đất tranh chấp là của ông H, ông Nguyễn Văn T chỉ được phép đặt ống bọng xả nước ra vào.
  • Tại Biên bản hòa giải của UBND xã P ngày 07/4/2022 cũng thể hiện nội dung: Ông T không có đất tại khu vực đường nước dưới mé sông, mà phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông H.
  • Công văn số 66/TNMT-ĐĐ ngày 08/8/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V xác định: Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất hành lang ven sông nên trên sơ đồ không thể hiện tên ai.

Tại cấp sơ thẩm, ông Phạm Văn N1 xác nhận vào năm 1984, ông đã chuyển nhượng khoảng 40 công đất, trong đó có phần đất mé sông trồng lá, cho ông H. Phần đất này trước đó do Nhà nước cấp cho ông vào năm 1976, sau đó ông mới chuyển nhượng lại cho ông H. Khi chuyển nhượng, đất không có đường nước, ông xác định phần đất tranh chấp 167,7 m² có nguồn gốc là của ông bán cho ông H.

Tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Văn T cung cấp Tờ tường trình ký tên Phạm Văn N1 xác nhận đất ông T sang có đường nước đào thẳng ngang tới sông. Xét thấy, Tờ tường trình của ông N1 có mâu thuẫn với chính lời khai của ông trước đây nên không coi là chứng cứ hợp pháp theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xem xét, xác định quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc về ông T.

Do ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H tháo dỡ con đập đã đắp và trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7 m² cho ông T nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ. Ông T kháng cáo cũng không cung cấp bổ sung chứng cứ hợp pháp chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét chấp nhận yêu cầu của ông T. Trường hợp ông T có nhu cầu về cấp thoát nước, tưới nước, tiêu nước trong quá trình sử dụng đất canh tác ông T có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác nếu có căn cứ.

Từ những nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang theo hướng đã phân tích.

[3]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.323.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 27/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu (ông T đã nộp xong).

- Chi phí định giá tài sản là 2.200.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 03/4/2023 của Công ty TNHH Đ, nguyên đơn ông T phải chịu (ông T đã nộp xong).

[4].Về án phí:

Căn cứ Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên phải chịu án phí 300.000 đồng, do ông T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 203 của Luật đất đai 2013;

Căn cứ các Điều 147, 148, 156, 157, 165, 166 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các Điều 6; Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (Thắng A) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Trương Thanh H.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T buộc bị đơn ông Trương Thanh H tháo dỡ con đập đã đắp bờ đất có chiều ngang một cạnh là 1,87m và một cạnh là 1,99m; chiều dài một cạnh là 5,56m và một cạnh là 5m.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T buộc bị đơn ông Trương Thanh H trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 167,7m² theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 126-2022 ngày 22/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V. Đất có vị trí tứ cận: Cạnh giáp sông Cái lớn từ điểm 3 đến điểm 10 = 3,69m; cạnh giáp lộ liên ấp gồm từ điểm 11 đến điểm 12 = 8,68m và điểm 12 đến điểm 4 = 2,69m; cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị B từ điểm 10 đến điểm 11 = 22,26m; cạnh giáp đất ông H đang sử dụng từ điểm 4 đến điểm 3 = 22,75m. Đất toạ lạc tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

3. Về chi phí tố tụng:

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.323.000 (Một triệu ba trăm hai mươi ba) đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 27/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu, ông Nguyễn Văn T đã nộp xong.

- Chi phí định giá tài sản là 2.200.000 (Hai triệu hai trăm nghìn) đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 03/4/2023 của Công ty TNHH Đ, ông Nguyễn Văn T phải chịu, ông Nguyễn Văn T đã nộp xong.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T (do ông Trần Văn H2 nộp thay) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0002561 ngày 21/10/2022 và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0003049 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Vĩnh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Đã ký

Hoàng Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 72/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Văn Thắng với bị đơn ông Trương Thanh Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger