Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-PT

Ngày 06 - 03 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển đổi

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Trung

Ông Đặng Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 360/2024/TLPT-DS, ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”. Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh thành phần gồm Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, Thư ký phiên Tòa. Điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, thành phần gồm các đương sự.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2025/QĐ-PT, ngày 14 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1935 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị D: Ông Nguyễn Tiến M, sinh năm 1992. Địa chỉ: số C, P, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Văn B, sinh năm 1975 (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1975 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn B: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960. Địa chỉ: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị B1, sinh năm 1960 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B3 và ông Nguyễn Văn B2: Bà Nguyễn Thị Ngọc B4, sinh năm 1988. Địa chỉ: số A, khóm E, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

  1. Nguyễn Thị Ngọc B5, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị Ngọc Tuyết B6, sinh năm 1999 (vắng mặt)
  3. Nguyễn Hoàng B7, sinh năm 1985 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Người kháng cáo: Ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị O là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thị D và lời trình bày của ông Nguyễn Tiến M được bà D ủy quyền như sau: Vào tháng 4 năm 2020 vợ chồng ông B, bà O có đến nhà của bà D để trao đổi việc chuyển đổi quyền sử dụng đất. Nên hai bên thống nhất chuyển đổi quyền sử dụng đất với diện tích khoảng 200m². Bên ông B, bà O nhận diện tích khoảng 200m² thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh (do bà D đứng tên). Ông B, bà O đã đào ao nuôi cá. Phía bà D đã nhận khoảng 200m² thuộc thửa 152, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh ( bà O đứng tên). Bà D đã cải tạo và trồng cây, hiện ổi đang cho trái. Việc trao đổi này hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, hai bên đã đưa vào sử dụng. Năm 2023 Bà D đã có yêu cầu vợ chồng ông B đi làm thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất, nhưng ông B, bà O không đồng ý đi làm thủ tục sang tên nên phát sinh tranh chấp.

Nay bà Huỳnh Thị D có yêu cầu như sau:

- Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa bà D với ông B, bà O tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 2 khoảng 200m² và thửa số 152, tờ bản đồ 24 diện tích khoảng 200m², đất tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Công nhận thửa đất số 152, tờ bản đồ 24 diện tích khoảng 200m², đất tọa lạc tại ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho bà Huỳnh Thị D.

Theo bà Nguyễn Thị O trình bày như sau: Giữa vợ chồng bà với bà D không có thỏa thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất. Bà có sử dụng diện tích khoảng 200m² thuộc thửa 47 của bà D, nhưng phần đất này bà D không có đưa cho bà sử dụng mà do bà B3 giao đất cho bà sử dụng, do bà B3 và vợ chồng bà có trao đổi đất với nhau. Bà O, ông B giao phần đất khoảng 200m² thuộc thửa 152 do bà O đứng tên cho bà B3 sử dụng. Bà B3 là con của bà D, họ cùng sống chung nhà với nhau. Nhưng khi đổi đất thì bà B3 không có nói đất này là của bà D. Sau thời gian sử dụng bà biết không phải đất của bà B3 mà đất do bà D đứng tên quyền sử dụng nên bà không chấp nhận đổi đất nữa và bà có yêu cầu bà B3 trả lại đất cho bà.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn B là ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông thống nhất ý kiến của bà O, giữa vợ chồng bà O với bà B3 có thỏa thuận đổi đất với nhau, nhưng chỉ thỏa thuận miệng, khi trao đổi thì bên bà O có nói bên bà B3 là chừa 5m ngang bên ngoài cho nhà anh của ông có lối đi ra, lối đi này thì đã có từ lâu, nhưng phía bên bà B3 không chừa lối ra. Nay ông có ý kiến là đất ai nấy sử dụng.

Người đại diện cho bà Trần Thị B1 và ông Nguyễn Văn B2 là bà Nguyễn Thị Ngọc B4 trình bày: Vào ngày 22/8/2018 bà B1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà O ngang 8,9m x dài 30m = 267m² giá 48.000.000 đồng (bốn mươi tám triệu đồng), sau đó có yêu cầu phía bà O sang tên thì bà O nói từ từ, đến năm 2020 bà O trúng vé số độc đắc, nói đất của ông bà xin chuộc lại, khoảng 03 ngày sau bà O xuống nhà của bà D gặp trực tiếp bà D và bà B1 xin đổi một phần đất của thửa 152 nêu trên với một thửa đất của bà D là thửa 47, mục đích là để nhà bà D làm lối đi ra lộ, phía đất bà O thì liền với đất của bà D, bà O đã nhận đất và đào ao nuôi cá. Đến mấy tháng sau bên bà D, bà B1 nhận đất cưa dừa làm đường đi trồng ổi gần hai năm. Đến đầu năm 2023 gia đình bà O không chịu đổi đất. Bà đại diện cho bà B1, ông B2 thống nhất yêu cầu của nguyên đơn tiếp tục đổi đất như trên.

Nay phía bà O đã đào đường cắt ngang lối đi, bên bà vẫn chừa 5m ngang làm lối đi cho phía bên anh của bà O đi vĩnh viễn.

Tại bản án sơ thẩm số 104/2024/DS-ST, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điều 167, 170, 190 Luật đất đai.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị D.

Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị D với bà Nguyễn Thị O và ông Lê Văn B đối với thửa đất số 47 diện tích thực đo 210,1m²; Thửa đất 152 diện tích thực đo 235,7m². Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Cụ thể như sau:

Bà Huỳnh Thị D được sử dụng một phần đất thực đo là 235,7m² (sơ đồ kí hiệu gồm phần B, phần B1, phần C, phần D). Thửa 152, tờ bản đồ số 24 (do bà O đứng tên quyền sử dụng đất). Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có độ dài và tứ cận như sau:

  • Hướng bắc giáp thửa 243 có độ dài 5,51m; 1,90m
  • Hướng nam giáp thửa 32, 31 có độ dài 6,81m; 2,09m
  • Hướng đông giáp thửa 243, 20 có độ dài 6,64m; 6,50m; 16,52m
  • Hướng tây giáp phần đất còn lại của thửa 152 có độ dài 8,91m; 20,96m.

Bà Nguyễn Thị O và ông Lê Văn B được sử dụng một phần đất thực đo là 210,1m² (sơ đồ kí hiệu phần A và phần B). Thửa 47, tờ bản đồ số 02 (do bà D đứng tên quyền sử dụng đất). Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có độ dài và tứ cận như sau:

  • Hướng bắc giáp thửa 51 có độ dài 0,52m; 8,10m
  • Hướng nam giáp thửa 46 có độ dài 24,97m; 2,20m; 0,22m
  • Hướng đông giáp thửa 45 có độ dài 15,74m; 9,76m
  • Hướng tây giáp thửa 46 có độ dài 25m

(Kèm theo bản án sơ đồ khu đất tranh chấp, công văn số 208/CNHCT ngày 23/02/2024 của VPĐKĐĐ chi nhánh huyện C cung cấp)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, lãi chậm trả và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/8/2024, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị O kháng cáo cho rằng bà D không có quyền khởi kiện ông bà; Bà B1 không phải là người có tên trong giấy chứng nhận nhưng lại đưa thông tin sai sự thật đổi đất với ông bà; Không đưa ông Nguyễn Văn T1 là người đi trên phần đất đối với bà B1, ảnh hưởng quyền lợi ông T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bác kháng cáo của các bị đơn, giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày tranh luận của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[01] Về tố tụng: Án sơ thẩm áp dụng khoản 9, Điều 26, khoản 1 Điều 35; Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 167, 170, 190 Luật đất đai năm 2013 là phù hợp với pháp luật. Sự vắng mặt của đương sự không có kháng cáo và có người đại diện theo ủy quyền có mặt, nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử theo quy định của pháp luật.

Đơn Kháng cáo của các bị đơn trong hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[02] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị O, ông Lê Văn B thấy rằng:

[2.1 Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà O, ông B có thừa nhận vào tháng 4 năm 2020, bà O, ông B có đổi đất với bà B1 (bà B1 là con của bà D sống chung một nhà với bà D) hai bên giao dịch bằng lời nói, không có làm hợp đồng bằng văn bản. Bà D có thửa đất diện tích 200m², thửa 47, bà O đứng tên thửa đất 152, diện tích khoảng 200m². Hai bên đã giao nhận đất xong, bà O cải tạo đào ao, trồng cây ăn trái, bà D nhận đất cải tạo trồng cây ăn trái nên phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015. Bà O, ông B cho rằng phần đất thửa 47 do bà D đứng tên không phải do bà B1 đứng tên nên bà B1 không có quyền đổi đất. Tuy nhiên, vợ chồng bà nêu lý do này là không phù hợp vì bà D không phản đối và cũng thống nhất đổi đất, không tranh chấp, điều đó còn thể hiện chính bà D là người khởi kiện vợ chồng bà O, ông B yêu cầu thực hiện hợp đồng đổi đất, nên lý do kháng cáo của vợ chồng ông B, bà O là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Đối với kháng cáo của vợ chồng ông B, bà O cho rằng không đưa ông T1 tham gia tố tụng và phần đất thửa 152 ông T1 có sử dụng làm đường đi trước khi ông bà đổi với bà B1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Án sơ thẩm nhận định, việc hai bên đổi đất là về ý chí tự nguyện, không ai bị ép buộc hay bị lừa dối; khi thỏa thuận đổi đất không thể hiện có thỏa thuận với người thứ ba, nên án sơ thẩm có giành quyền khởi kiện cho bà O trong vụ kiện khác là phù hợp. Từ đó, cũng không cần thiết đưa ông Nguyễn Văn T1 tham gia tố tụng.

[03] Ý kiến của kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[04] Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của của ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị O.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 104/2024/DS-ST, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị D.

Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị D với bà Nguyễn Thị O và ông Lê Văn B đối với thửa đất số 47 diện tích thực đo 210,1m²; Thửa đất 152 diện tích thực đo 235,7m². Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Cụ thể như sau:

Bà Huỳnh Thị D được sử dụng một phần đất thực đo là 235,7m² (sơ đồ kí hiệu gồm phần B, phần B1, phần C, phần D). Thửa 152, tờ bản đồ số 24 (do bà O đứng tên quyền sử dụng đất). Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có độ dài và tứ cận như sau:

  • Hướng bắc giáp thửa 243 có độ dài 5,51m; 1,90m
  • Hướng nam giáp thửa 32,31 có độ dài 6,81m; 2,09m
  • Hướng đông giáp thửa 243,20 có độ dài 6,64m; 6,50m; 16,52m
  • Hướng tây giáp phần đất còn lại của thửa 152 có độ dài 8,91m; 20,96m.

Bà Nguyễn Thị O và ông Lê Văn B được sử dụng một phần đất thực đo là 210,1m² (sơ đồ kí hiệu phần A và phần B). Thửa 47, tờ bản đồ số 02 (do bà D đứng tên quyền sử dụng đất). Đất ở ấp K, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có độ dài và tứ cận như sau:

  • Hướng bắc giáp thửa 51 có độ dài 0,52m; 8,10m
  • Hướng nam giáp thửa 46 có độ dài 24,97m; 2,20m; 0,22m
  • Hướng đông giáp thửa 45 có độ dài 15,74m; 9,76m
  • Hướng tây giáp thửa 46 có độ dài 25m

(Kèm theo bản án sơ đồ khu đất tranh chấp, công văn số 208/CNHCT ngày 23/02/2024 của VPĐKĐĐ chi nhánh huyện C cung cấp)

Về án phí phúc thẩm: Buộc ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009573, ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Trà Vinh;

- TAND huyện Châu Thành;

-CCTHADS huyện Châu Thành;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 72/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger