TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 72/2024/HSST Ngày 18 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng; ông Nguyễn Văn Thể
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/HSST ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với:
* Bị cáo: Phạm Văn T7 sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố: Không xác định và mẹ bà Phạm Thị K (tên gọi khác là A) (đã chết); vợ: Hoàng Thị P; con: 02 con (con lớn sinh năm 2003; con nhỏ sinh năm 2007); tạm giữ, tạm giam: không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xử phạt 12 tháng tù về tội “Gá bạc”, ra trại ngày 29/8/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người bị hại: Anh Mai Văn T sinh năm 1996 (đã chết); người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn N, sinh năm 1963; bà Mai Thị T1, sinh năm 1966 và chị Trịnh Thị T2, sinh năm 2000; cùng nơi cư trú: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Mai Văn T3, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Công an huyện K, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc P1 - Trưởng Công an huyện. Người đại diện theo ủy quyền: ông Lại Huy T4 - Đội trưởng Đội tham mưu. Vắng mặt.
- - Ông Trần Hữu T5, sinh năm 1954; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- - Anh Trần Phi T6, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn M, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Anh Phạm Duy K1 sinh năm 1988 và anh Đinh Trường G sinh năm 1996; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 28/10/2023, Phạm Văn T7 có giấy phép lái xe hạng C do Sở GTVT tỉnh H cấp có giá trị đến ngày 06/01/2028, điều khiển xe ô tô Toyota Vios BKS: 14A - 291.33 từ nhà đến Km219+200 QL1A thuộc địa phận TDP Phạm Văn Đ, phường Đ, thị xã D rồi đỗ xe bên phải chiều đường P - Hà Nội (Đây là đoạn đường có biển báo cấm dừng, cấm đỗ xe) để đợi đón khách đi Hà Nội. Tam bật đèn cảnh báo của xe rồi xuống xe đi bộ vào gầm cầu vượt nhưng T7 không đặt biển báo nguy hiểm phía trước và phía sau xe. Khoảng 05 phút sau, anh Mai Văn T điều khiển xe mô tô Honda Vision BKS: 36G1 - 445.78 đi hướng P - Hà Nội đi phía sau cùng chiều với xe ô tô Mazda BKS: 90A - 000.84 do anh Trần Phi T6 có giấy phép lái xe ô tô hạng D do Cục C- Bộ C1 cấp, có giá trị đến ngày 11/11/2024. Tiếp đó, xe mô tô 36G1 - 445.78 do anh T điều khiển vượt phía bên phải xe ô tô của anh T6 rồi đâm vào khu vực cụm đèn hậu phía sau bên trái xe ô tô 14A - 291.33 làm anh T và xe mô tô ngã, đổ ra làn đường bên trái giáp giải phân cách cứng rồi trượt về phía Hà Nội khoảng 5m. Ngay lúc này, xe ô tô Mazda, BKS: 90A - 000.84 do anh Trần Phi T6 điều khiển chở anh Đinh Trường G, sinh năm 1996 trú tại thôn C, xã T, huyện K và anh Phạm Duy K1, sinh năm 1988 trú tại tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam đi trên phần đường giáp dải phân cách cứng, hướng P - Hà Nội đi đến. Anh T6 đạp phanh và đánh lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên đã để xe ô tô 90A - 000.84 cuốn người anh T vào gầm xe ô tô, đẩy trượt về phía Hà Nội khoảng 8m thì dừng lại. Hậu quả: anh T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh H nhưng đã tử vong, các phương tiện bị hư hỏng. Kiểm tra tại thời điểm tham gia giao thông Phạm Văn T7, Trần Phi T6 không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tai nạn giao thông tại Km219+200 QL1A chiều đường P - Hà Nội thuộc địa phận tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D. Mặt đường được trải nhựa thẳng, phẳng, là đường đôi có đặt dải phân cách cứng bằng bê tông cao 0,9m, rộng 0,3m ở giữa tim đường để phân chia làm hai chiều đường xe chạy riêng biệt. Chiều đường hướng P - Hà Nội gồm có hai làn đường được phân chia bởi vạch sơn màu trắng nét đứt quãng rộng 0,15m, làn đường bên phải rộng 3,4m, làn đường bên trái sát dải phân cách cứng rộng 3,35m. Sát mép đường nhựa bên phải hướng P - Hà Nội có vạch sơn kẻ giới hạn phần đường xe chạy màu trắng nét liền rộng 0,2m. Khu vực hiện trường bên phải chiều đường P - Hà Nội có đặt biển cảnh báo cấm dừng và đỗ xe kèm biển phụ phía dưới là 250m. Mốc của hiện trường là cọc H2 Km219 QL1A. Tất cả các số đo đều được đo vuông góc vào mép vạch sơn giới hạn phần đường xe chạy màu trắng nét liền sát mép phải đường hướng P - Hà Nội và được đánh số thứ tự lần lượt từ (1) đến (8). Cụ thể như sau: Dấu vết (1) là xe ô tô 14A - 291.33 đỗ bên phải chiều đường P - Hà Nội, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Phủ Lý, đèn hậu hai bên nhấp nháy màu vàng. T8 má ngoài lốp bánh sau bên phải cách vạch sơn màu trắng sát lề phải đường là 0,14m. Má ngoài lốp bánh trước bên phải cách vạch sơn trắng sát lề phải đường 0,12m. Dấu vết (2) là đám mảnh nhựa vỡ KT(15x4)m, tâm vết này cách cách tâm trục bánh trước bên phải của xe ô tô 14A - 291.33 là 2,1m về hướng đi Hà Nội và cách mép đường bên phải là 2,2m. Dấu vết (3) là vết chà sạt KT(0,45x0,7)m trên mặt dải phân cách cứng, hướng P - Hà Nội, điểm đầu vết cách vạch sơn trắng lề phải đường hướng P - Hà Nội là 7,7m, điểm thấp nhất cách mặt đường 0,15m. Dấu vết (4) là mảng vết cầy KT(1,9 x 0,9)m hướng P- Hà Nội, điểm đầu vết cách mép vạch sơn trắng ở lề phải đường là 7,25m, điểm cuối vết trùng với mặt ngoài để chân trước bên trái xe mô tô 36G1 - 445.78. Dấu vết (5) là xe mô tô 36G1 - 445.78 đổ nghiêng bên trái nằm sát dải phân cách cứng, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Phủ Lý, tâm trục bánh sau xe mô tô cách mép vạch sơn trắng ở lề phải đường là 7,06m. Dấu vết (6) là đám vết máu KT(0,2x0,3)m, tâm vết cách mép vạch sơn trắng ở lề phải đường là 3,05m. Dấu vết (7) có KT(0,25x0,21x0,15)m. Dấu vết (8) là xe ô tô BKS: 90A - 000.84, đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng P, tâm má ngoài lốp bánh sau bên phải cách vạch sơn trắng ở lề phải đường là 0,85m, tâm trục má ngoài lốp bánh trước bên phải xe cách vạch sơn trắng ở lề phải đường là 0,45m.Đo từ tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô 14A-291.33 về phía Phủ Lý 39,3m là chân cột biển “Cấm dừng đỗ xe” kèm theo biển phụ phía dưới phạm vi tác dụng của biển 250m đặt bên phải chiều đường P - Hà Nội.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- - Xe ô tô BKS: 14A - 291.33: Ốp sườn xe bên trái phía sau bằng kim loại có vết mài trượt KT(38x4)cm hướng từ sau về trước, điểm đầu vết cách đuôi ốp sườn xe này 11cm, điểm thấp nhất cách đất 103cm. Ốp sườn xe bên trái phía sau bằng kim loại có vết mài trượt bẹp lõm bong chóc sơn KT(18x4)cm hướng từ sau về trước, chếch từ phải sang trái. Điểm đầu vết cách đuôi ốp kim loại này 04cm, cách đất 98cm, điểm cuối vết cách đuôi ốp kim loại này 12cm, cách đất 97cm. Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn xinhan, đèn hậu phía sau bên trái có hai vết nứt vỡ nhựa: Vết thứ nhất có KT(18x10)cm, điểm gần nhất trùng với cạnh trước của ốp nhựa này, điểm thấp nhất cách đất 87cm, tâm vết này cách đất 92cm; Vết thứ hai có KT(20x6,5)cm, điểm gần nhất trùng với góc dưới phía trước ốp nhựa này, điểm thấp nhất cách đất 75cm, tâm vết này đo cách đất 78cm. Mặt ngoài ba đờ sốc phía sau bên trái có đám vết trượt vỡ, rách sơn, ma tít, nhựa trên diện KT(110x50)cm, trên bề mặt đám vết trượt này có vết trượt KT(10x1,5)cm hướng từ sau về trước bám dính chất màu xanh nghi sơn, điểm thấp nhất của vết này cách đất 47cm, điểm gần nhất đo cách góc phía trước bên trái của ba đờ sốc này 63cm. Trên bề mặt đám vết trượt này có vết mài trượt KT(8x5,5)cm hướng từ sau về trước, từ phải sang trái, bề mặt bám dính chất màu xanh nước biển nghi sơn, điểm thấp nhất cách đất 56cm.
- - Xe ô tô BKS: 90A - 000.84: Mặt trước dưới nửa trên bên phải mặt ca lăng đầu xe có vết trượt trên diện KT(36x1,5)cm hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, điểm thấp nhất cách mặt đất 72cm, điểm gần nhất cách cạnh ngoài bên phải đầu xe 93cm. Các chốt ngàm phía dưới nửa bên phải của thanh nhựa mặt ca lăng này bung bật khỏi vị trí đầu hướng từ dưới lên trên. Mặt ngoài nửa bên phải ốp nhựa phía trước đầu xe rải rác các vết trượt, mài sạt sơn bám dính chất màu đỏ (nghi sơn) trên diện (46x13)cm hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách đất 56,5cm, điểm đầu vết cách cạnh ngoài cùng bên phải đầu xe là 93,5cm. Mặt ngoài phía dưới 2/3 bên phải biển số đầu xe có vết trượt mài sạt sơn, kim loại KT(19x7)cm hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Điểm thấp nhất cách đất 35,5cm. Mặt ngoài ốp nhựa phía trước, dưới đèn sương mù bên phải đầu xe có vết trượt mài sạt bong tróc sơn, ma tít KT(20x13)cm hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách đất 58cm, chốt ngàm trên ốp này bung bật khỏi vị trí ban đầu. Mặt trong trước nửa bên phải chắn bùn bánh trước có vết trượt mất bụi KT(9,5x8)cm hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Điểm thấp nhất cách đất 41cm. Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải tương ứng vị trí tiếp giáp mặt lăn có vết trượt cao su KT(25x7)cm hướng ngược chiều bánh xe tiến, điểm đầu cách đầu trên chữ “E” trong dòng chữ “GRANDTREK” 02 cm.Mặt trước dưới ốp nhựa phía dưới trước đầu xe nửa bên phải có vết mài sạt KT(54x7)cm hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Điểm thấp nhất cách mặt đất 35cm. Đầu vết cách cạnh ngoài cùng đầu xe bên phải 100cm. Cạnh trước dưới ốp kim loại phía dưới khoang động cơ có vết trượt mất bụi in hằn các đường song song và dấu vết dạng đường vân KT(50x29)cm hướng từ trước về sau. Điểm thấp nhất cách đất 30cm. Điểm đầu vết cách cạnh ngoài cùng đầu xe bên phải 103cm. Cạnh sau giá treo đầu cầu trục bánh trước bên trái có vết trượt mất bụi KT(13x2)cm hướng từ trái qua phải dạng in hằn dấu vết đường vân. Điểm thấp nhất cách đất 26cm. Mặt ngoài sắt si bên trái nối với đầu giá treo này có vết trượt mất bụi KT(17,5x4)cm hướng từ trước về sau. Điểm đầu vết cách điểm đầu giá treo 14cm. Điểm thấp nhấy cách đất 32cm. Mặtngoài nửa phía sau trục cát đăng bên trái đầu xe có vết trượt in hằn dấu vết dạng đường vân KT(20x12)cm hướng từ phải qua trái, từ trước về sau. Điểm thấp nhất cách đất 40cm, điểm đầu vết cách cạnh cát đăng 40cm. Cạnh trước dưới giá treo cầu trục bánh trước bên phải có vết trượt mất bụi KT(14x3)cm hướng từ trái qua phải. Điểm thấp nhất cách đất 19,5cm. Mặt ngoài má trong lốp trước bên phải rải rác vết trượt cao su KT(56x7)cm hướng ngược chiều tịnh tiến bánh xe. Cạnh dưới đầu phía trước sắt si bên phải có vết trượt in hằn các dấu vết dạng đường vân song song KT(32,5x13)cm hướng từ trước về sau, từ trái qua phải. Điểm thấp nhất cách đất 29,5cm. Điểm đầu vết đo cách cạnh ngoài cùng thành xe bên phải 40cm. Toàn bộ phía dưới gầm xe bám lớp bụi, bùn đất đã khô.
- - Xe mô tô BKS: 36G1 - 445.78: Gương chiếu hậu bên trái quay tự do không cố định: Đầu ngoài tay phanh bên trái có vết mài trượt KT(2x1,5)cm bề mặt bám dính chất màu đỏ nghi sơn, mặt trước tay phanh này có đám vết mài trượt kim loại KT(5x0,5)cm không rõ chiều hướng, điểm gần nhất cách đầu ngoài tay phanh này 10cm. Đầu ngoài tay nắm bên trái có vết mài trượt KT(1x1,5)cm cso hướng từ trước về sau. Mặt ngoài cánh yếm chắn gió bên trái có vết mài trượt vỡ nhựa KT(21x18)cm hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính chất màu đỏ nghi sơn. Điểm gần nhất cách góc phía trên cánh yếm này 16cm.Mặt ngoài ốp nhựa bên trái bảo vệ sàn để chân có vết mài trượt bong tróc nilong KT(14x2)cm không rõ hướng, điểm gần nhất trùng với góc trước phía trên ốp nhựa này. Cạnh bên trái bàn đạp chân chống giữa có vết mài trượt KT(3x0,5)cm không rõ hướng. Mặt hướng phía trước của đầu ngoài tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại hướng từ trước về sau KT(1x0,5)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 92cm. Mặt hướng phía trước đầu ngoài tay nắm bên phải có vết trượt hướng từ trước về sau KT(1x0,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 97cm. Cánh yếm chắn gió bên phải, cụm đèn xi nhan phiá trước bên phải, ốp nhựa bảo vệ phía dưới bàn để chân bên phải vỡ bật rời khỏi xe. Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe có vết mài trượt KT(13x11)cm, điểm gần nhất trùng với điểm nho ra của ốp nhựa này, điểm thấp nhất cách đất 63cm. Mặt ngoài bên phải cung chắn bùn phía trước bánh trước có đám vết mài trượt nứt vỡ nhựa trên diện KT(38x11)cm. Điểm gần nhất cách đầu cung chắn bùn này 3cm. Giáp cạnh phía sau cung chắn bùn này có dán tem màu xanh lá, điểm thấp nhất đo cách đất 46cm. Mặt ngoài ống giảm xóc phía trước bên phải có đám vết mài trượt hướng từ trước về sau KT(19x4)cm, điểm gần nhất cách đầu dưới ống giảm xóc này 11cm, điểm thấp nhất cách đất 31cm. Mặt ngoài thanh kim loại để chân phía sau bên phải ở trạng thái gấp có vết mài trượt kim loại bề mặt bám dính chất màu bạc nghi sơn KT(8x2,5)cm. Điểm thấp nhất cách đất 33cm.
* Kết quả khám nghiệm tử thi:
Kết luận giám định tử thi số 830/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh H: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Mai Văn T bị chấn thương cột sống - tủy sống cổ (Trật khớp, bầm dập, phù nề, tụ máu tủy sống đoạn C3-C4).
Kết luận giám định số 787/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh H: Không tìm thấy E (cồn) trong mẫu máu của nạn nhân Mai Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự: Phạm Văn T7 và anh Trần Phi T6 đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 300.000.000đ. Các bên đã thống nhất, giải quyết xong về trách nhiệm dân sự và không có thắc mắc, yêu cầu gì khác.
* Về vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô Vios BKS 14A - 291.33; 01 đăng ký xe ô tô số 046325 của xe ô tô 14A - 29133; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 0080446 của xe ô tô 14A-29133 có hiệu lực đến ngày 20/9/2024; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô 14A-29133 có thời hạn đến này 19/01/2024; 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Phạm Văn T7; 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda BT50, BKS 90A - 000.84; 01 đăng ký xe ô tô số 015226 của xe ô tô 90A - 000.84; 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Trần Phi T6; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 36G1 - 445.78; 01 đăng ký xe mô tô số 006350 của xe mô tô 36G1 - 445.78; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Mai Văn T. Quá trình điều tra xác định xe ô tô BKS: 90A - 000.84 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe đã thu giữ là tài sản hợp pháp của Công an tỉnh H; Xe ô tô BKS: 14A - 291.33 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe đã thu giữ là tài sản hợp pháp của bị can Phạm Văn T7 và xe mô tô BKS: 36G1 - 445.78 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn T là tài sản hợp pháp của anh Mai Văn T. Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô BKS: 90A - 000.84 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe cho đại diện theo ủy quyền của Công an huyện K là anh Lại Huy T4 - Đội trưởng Đội tham mưu Công an huyện K; Trả lại chiếc xe ô tô BKS: 14A - 291.33 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe cho bị can Phạm Văn T7; Trả lại xe mô tô BKS: 36G1 - 445.78 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn T cho đại diện theo ủy quyền của người bị hại là anh Mai Văn T3; Trả lại anh Trần Phi T6 01 giấy phép lái xe hạng D. Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Phạm Văn T7 đã được VKSND thị xã Duy Tiên trả lại bị cáo T7 trong giai đoạn truy tố.
Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 28/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố Phạm Văn T7 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết và tuyên án phí của vụ án.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 28/10/2023 tại Km219+200 QL1A thuộc địa phận TDP P, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Phạm Văn T7 có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô BKS: 14A - 291.33 đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy chiều P - Hà Nội tại đoạn đường cấm dừng, cấm đỗ xe và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía trước và sau xe ô tô, dẫn đến anh Mai Văn T điều khiển xe mô tô BKS: 36G1 - 445.78 đi từ phía sau tới, trong quá trình vượt xe ô tô 90A - 000.84 đã đâm vào phía sau bên trái xe ô tô 14A - 291.33 rồi ngã văng ra đường. Cùng lúc này xe ô tô 90A - 000.84 do anh Trần Phi T6 điều khiển đi từ phía sau tới đã cuốn anh T vào gầm xe. Hậu quả: anh T được đưa đi bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu nhưng ngay sau đó đã tử vong, xe mô tô hư hỏng.
Hành vi nêu trên của Phạm Văn T7 gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi đỗ xe tại nơi cấm dừng, cấm đỗ xe, không đặt biển cảnh báo trước, sau xe vi phạm Điều 11, Điều 18 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã cùng anh Trần Phi T6 tích cực khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; vợ bị cáo bị bệnh tâm thần; bị cáo được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và vượt xe bên phải xe cùng chiều không bảo đảm an toàn dẫn đến tai nạn vì thế bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên, nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu nay lại phạm tội tuy nhiên xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ vì thế cần ấn định mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về hành vi khác: Trong vụ án này anh Trần Phi T6 điều khiển xe ô tô 90A-000.84 va vào anh Mai Văn T khi anh T bị trượt ngã trên đường; căn cứ lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản khám nghiệm hiện trường, video clip, cùng các tài liệu trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định thời điểm anh Mai Văn T điều khiển xe mô tô 36G1 - 445.78 đâm vào đuôi ô tô 14A - 291.33 rồi ngã ra đường đến thời điểm xe ô tô 90A-000.84 va vào người anh Mai Văn T là rất ngắn, các sự kiện xảy ra liên tiếp dẫn đến anh Trần Phi T6 không có cơ hội để xử lý nên thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ vì vậy cơ quan điều tra không xem xét hành vi này là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và anh Trần Phi T6 đã bồi thường, hỗ trợ theo thỏa thuận với người đại diện của bị hại, nay không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
[7] Về vật xử lý chứng: Đã được giải quyết tại giai đoạn điều tra, truy tố. Nay không ai có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng khác thực hiện theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T7 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T7 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn T7 phải chịu 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Thuận |
Bản án số 72/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM VĂN T PHẠM TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
