Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.CẨM LỆ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72 /2024/HS-ST

Ngày: 09-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Đặng Văn Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa:

Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68 /2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thanh H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: “Cu Đen”. Sinh ngày: 10/9/1988, tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Phòng 310, Khu C N, tổ H, phường H, quận H, TP .. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 01/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ tên cha: Võ Văn M (SN: 1954; đã chết); họ tên mẹ: Trần Thị T (SN: 1954; đã chết). Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ ba.

- Tiền án, tiền sự: 04 tiền án, cụ thể:

  • Bản án số 37/2008/HSST ngày 28/4/2008 của TAND quận Hải Châu, TP . xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/01/2009.
  • Bản án số 07/2010/HSST ngày 25/02/2011 của TAND quận Hải Châu, TP . xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/6/2012.
  • Bản án số 49/2013/HSST ngày 18/12/2013 của TAND huyện Hòa Vang, TP . xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2017.
  • Bản án số 15/2018/HSST ngày 15/3/2018 của TAND quận Cẩm Lệ xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2023.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận C, Tp Đà Nẵng từ ngày 05/4/2024. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Trần Thanh M1, sinh năm: 1968. Trú tại: Thôn N, xã H, huyện H, TP .. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trần Thị Mỹ L, sinh năm: 1995. Trú tại: N, xã H, huyện H, TP . Vắng mặt.
  2. Anh Võ Thanh H1, sinh năm: 1990. Trú tại: Khối phố A, phường A, TP ., Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Nguyễn Thị N, sinh năm: 1970. Trú tại: Khối phố G, phường A, TP ., Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 09/12/2023, Võ Thanh H đến nhà ông Lê Xuân Q (tại số B đường V, phường H, quận C, TP . để ăn uống. Lúc sau, ông Trần Thanh M1 điều khiển xe mô tô BKS: 43K1-477.86 hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu đen đến nhà ông Q chơi và cùng ngồi nhậu. Tại đây, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô BKS: 43K1-477.86 của ông M1 đem bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H rủ ông M1 đi hát karaoke tại quán L số E đường N, phường K, quận C, TP .. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi thanh toán tiền, H nói không có tiền và nói dối với ông M1 là mình có vợ đang làm ở quán T2 tại số A X, Khu Ê, quận C, TP . rồi mượn xe để đi gặp vợ lấy tiền về thanh toán. Tin tưởng H, ông M1 đưa xe mô tô BKS: 43K1-477.86 cho H, cùng đi có Trương Văn H2Đinh Viết K (nhân viên quán karaoke) điều khiển xe đi theo sau H để lấy tiền. Khi đến khu vực đường L (gần quán T3), H dừng xe lại, nói H2K đứng chờ để H đi qua quán lấy tiền rồi quay lại trả. Sau đó, H điều khiển xe đi về hướng quán Tư

Rảnh nhưng không vào quán rồi phóng xe tẩu thoát. Thấy vậy, H2K điều khiển xe đuổi H nhưng không kịp nên quay về báo lại ông M1.

Đến khoảng 09 giờ ngày 10/12/2023, H điều khiển xe đến quán Cô T1, phường A, TP ., Quảng Nam ngồi ăn uống cùng bà Nguyễn Thị N và anh Võ Thanh H1 (con rể bà N). Do không đủ tiền thanh toán nên H mượn H1 số tiền 1.500.000 đồng và để lại xe mô tô BKS: 43K1-477.86 cho H1 giữ làm tin rồi bỏ trốn. Sau khi Cơ quan CSĐT Công an quận C ra quyết định truy nã, đến ngày 05/4/2024, H đến Công an quận C đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Tang vật thu giữ:

  • 01 xe mô tô BKS: 43K1-477.86 hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu đen;
  • 01 DVD ghi dữ liệu liên quan vụ việc.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C xác định: xe mô tô BKS 43K1-477.86 hiệu Honda, màu đỏ nâu đen có giá trị tài sản là 22.455.000 đồng.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 64/CT-VKSCL ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Võ Thanh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 174.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thanh H từ 04 năm đến 05 năm tù giam.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô BKS: 43K1-477.86 hiệu Honda, màu đỏ nâu đen là tài sản của chị Trần Thị Mỹ L đưa cho ông M1 mượn sử dụng làm phương tiện đi lại nên Cơ quan CSĐT Công an quận C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị L là có cơ sở, đề nghị HĐXX chấp nhận.

- Đối với 01 DVD ghi dữ liệu camera vụ việc là tài liệu, chứng cứ tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Võ Thanh H1 cho H mượn số tiền 1.500.000 đồng và H để lại xe mô tô BKS: 43K1-477.86 cho H1 giữ. Cơ quan điều tra đã thu hồi xe trả lại cho chủ sở hữu, anh H1 yêu cầu H trả lại số tiền 1.500.000 đồng, đến nay H chưa trả lại. Đề nghị HĐXX xem xét, buộc bị cáo có trách nhiệm hoàn trả cho anh H1 số tiền 1.500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không

tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là bị cáo vô cùng ân hận về hành vi của mình, và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng

Cơ quan CSĐT Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu hồi được, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an quận C đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 21 giờ ngày 09/12/2023, tại số E đường N, phường K, quận C, TP ., Võ Thanh H là người đang có tiền án với tình tiết tái phạm nguy hiểm (theo Bản án số 15/2018/HSST ngày 15/3/2018 của TAND quận Cẩm Lệ) đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để ông Trần Thanh M1 tin tưởng, nhằm tiếp cận và chiếm đoạt 01 xe mô tô BKS: 43K1-477.86 hiệu Honda, màu đỏ nâu đen có giá trị 22.455.000 đồng của ông Trần Thanh M1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với việc truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 174 BLHS thì HĐXX nhận thấy, theo Bản án số 15/2018/HSST ngày 15/3/2018 của TAND quận Cẩm Lệ, bị cáo H thực hiện 01 hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, 02 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 02 hành vi trộm cắp tài sản. Thêm lần phạm tội này thì bị cáo chỉ có 03 lần phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,

không thỏa mãn dấu hiệu định khung “có tính chất chuyên nghiệp”. Do đó, HĐXX không chấp nhận đối với đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ theo điểm b khoản 2 Điều 174 BLHS.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Võ Thanh H là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định. Tuy nhiên, vì động cơ vụ lợi, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã bất chấp hậu quả, coi thường pháp luật để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và thể hiện sự liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.

Về nhân thân, bị cáo Võ Thanh H có nhân thân rất xấu. Nhiều lần bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình truy nã, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Do đó, HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo H mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Đồng thời, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô BKS: 43K1-477.86 hiệu Honda, màu đỏ nâu đen là tài sản của chị Trần Thị Mỹ L đưa cho ông M1 mượn sử dụng làm phương tiện đi lại nên Cơ quan CSĐT Công an quận C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị L là có cơ sở nên chấp nhận.

- Đối với 01 DVD ghi dữ liệu camera vụ việc là tài liệu, chứng cứ tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết, anh Võ Thanh H1 có đơn đề nghị bị cáo hoàn trả số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo có thừa nhận hành vi của mình và thống nhất hoàn trả cho anh Võ Thanh H1. Do đó, căn cứ Điều 466 BLDS 2015, HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Võ Thanh H1, buộc bị cáo có trách nhiệm hoàn trả cho anh Võ Thanh H1 số tiền 1.500.000 đồng.

[6] Về án phí: Bị cáo Võ Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Vấn đề khác: đối với việc anh Võ Thanh H1 cho bị cáo mư ợn 1.500.000 đồng và giữ xe mô tô BKS: 43K1-477.86 nhưng không biết đây là tài sản phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo: Võ Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Võ Thanh H 4 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015

Buộc bị cáo có trách nhiệm hoàn trả cho anh Võ Thanh H1 số tiền 1.500.000 đồng.

  1. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND tp. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp tp. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thanh H lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger