Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày 10 - 06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.

Ông Phạm Trung Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong các ngày 03 và 10 tháng 06 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn A, sinh năm 1990 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã L, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số B, tổ D, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị N (đã chết); vợ: Phạm Thị B, sinh năm 1986; con: 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020;

Tiền án: không, tiền sự: không;

Nhân thân: tại Bản án số 69/2023/HSST ngày 23/02/2023, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 13/02/2023, Nguyễn Văn A điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số: 60C-268.69 kéo theo rơ moóc BKS: 60R-058.03 lưu thông trên đường I, theo hướng từ cảng C đi ra QL51. Khi đi đến ngã tư giao nhau với đường L cảng thuộc KCN C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã va chạm với xe ô tô BKS 15HC-001.68 do Mai Đình H (sinh năm: 1990; Nơi thường trú: thôn G, xã E, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển lưu thông trên đường Liên cảng theo hướng từ cảng B đi qua cảng P. Hậu quả: xe ô tô BKS: 15HC-001.68 bị hư hỏng nặng, xe ô tô đầu kéo BKS: 60C-268.69 hư hỏng nhẹ. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là ngã tư đường L cảng giao nhau với đường I thuộc KCN C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đèn tín hiệu giao thông chớp vàng. Đường 965 là đường đôi, có dải phân cách cứng chia đường thành 2 chiều xe chạy riêng biệt. Mỗi chiều có 3 làn đường, bề rộng 9m90. Đường L cảng là đường đôi, có dải phân cách bằng bê tông chính giữa chia mặt đường thành 02 phần (chiều) đường riêng biệt, mỗi phần đường rộng 10,10m. Lấy lề đường bên phải phần đường 965 theo hướng từ Cảng Cái M đi ra Quốc lộ E làm lề chuẩn.

Khu vực va chạm xác định nằm trong ngã tư đường I giao nhau với đường L, trên phần đường bên phải của đường 965 theo hướng từ Cảng Cái M đi ra QL51. Khoảng cách từ khu vực va chạm đến lề chuẩn là 3m50, đến trục bánh trước bên phải xe ô tô BKS 15HC – 001.68 là 01m45.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 161/KL ngày 30/06/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã P kết luận:

+ 01 (một) xe ô tô bơm bê tông nhãn hiệu Daewoo; biển số: 15HC-001.68; màu trắng; số khung: CSF1FK000323; số máy: DV11304896CA; sản xuất năm 2015. Giá trị thiệt hại khôi phục hiện trạng ban đầu của tài sản tại thời điểm ngày 13/02/2023 là 236.940.000 đồng (hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi ngàn đồng).

+ 01 (một) xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu International; biển số: 60C-268.69; màu trắng; số khung: 5HM2Y4103666; số máy: SJR3BN376412; sản xuất năm 2010. Giá trị thiệt hại khôi phục hiện trạng ban đầu của tài sản tại thời điểm ngày 13/02/2023 là 18.700.000 đồng (mười tám triệu bảy trăm ngàn đồng).

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi hỗn hợp: Nguyễn Văn A và M xe ô tô đến khu vực ngã tư giao nhau, có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã xảy ra va chạm giữa hai xe vi phạm Điều 11 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 12/01/2024, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn A 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm kể từ chấp hành xong Bản án, Quyết định của Toà án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn A có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: bản án sơ thẩm đã kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn A 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, lỗi dẫn đến vụ tai nạn là lỗi hỗn hợp giữa bị cáo Nguyễn Văn A và M ô tô đến khu vực ngã tư giao nhau, có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ. Hậu quả của vụ tai nạn giao thông là làm hư hỏng tài sản, chưa gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe nên không cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: Để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục hành nghề, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo A.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A tranh luận như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

2.1 Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 13/02/2023 tại ngã tư giao nhau với đường L cảng thuộc KCN C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có biển cảnh báo nguy hiểm, Nguyễn Văn A đã có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 60C-268.69 kéo theo Rơ mooc BKS 60R-058.03 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã va chạm với xe ô tô BKS 15HC-001.68 do Mai Đình Hồng điều khiển, vi phạm Điều 11 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G và gây thiệt hại tài sản của ông Mai Đình H là 236.940.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ vào giá trị thiệt hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, xét nguyên nhân dẫn đến tai nạn và lỗi, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: nguyên nhân của vụ tai nạn là do sự không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đến khu vực ngã tư giao nhau của cả bị cáo Nguyễn Văn A và ông Mai Đình H. Theo Bản ảnh hiện trường thể hiện xe của ông Mai Đình H còn đâm ngang vào thân xe của bị cáo Nguyễn Văn A nên rõ ràng ông H có lỗi nhiều hơn so với bị cáo A trong vụ án này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ giá trị thiệt hại xe của ông Mai Đình H để xét xử bị cáo Nguyễn Văn A là chưa giải quyết triệt để hậu quả của vụ án vì những lý do sau đây.

Tội danh “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điều 260 chương XXI Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”, khách thể xâm phạm của tội danh này là “trật tự, an toàn công cộng” nên cần hiểu chính xác cách xác định hậu quả của vụ án mới có thể giải quyết triệt để.

“Thiệt hại cho người khác quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự được hiểu là thiệt hại không bao gồm thiệt hại của người gây tai nạn và phương tiện mà người gây tai nạn sử dụng” (nội dung Điều 04 Công văn 02/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 của Tòa án nhân dân tối cao) nghĩa là trong trường hợp một (hoặc nhiều) người có hành vi vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ mà gây thiệt hại cho người khác (lỗi hoàn toàn) thì theo hướng có lợi khi xác định hậu quả của vụ án, cần loại trừ thiệt hại của họ và phương tiện mà họ sử dụng khi tham gia giao thông. Nếu vụ án xảy ra do lỗi hỗn hợp thì phải xác định hậu quả của vụ án là tất cả thiệt hại bao gồm tính mạng, sức khỏe của con người cũng như giá trị thiệt hại về tài sản (của cả những người vi phạm và tài sản của người khác) và những ai có lỗi đều phải chịu trách nhiệm chung đối với hậu quả nêu trên.

Do đó, trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn A và ông Mai Đình H đều có lỗi khi tham gia lưu thông và đã gây thiệt hại cho nhau (thiệt hại của ông H là 236.940.000 đồng, thiệt hại của bị cáo A là 18.700.000 đồng) nên phải xác định thiệt hại của vụ án là tổng giá trị của 2 thiệt hại nêu trên và cả bị cáo A và ông H phải chịu trách nhiệm chung đối với thiệt hại này. Do nhận thức chưa đúng nên về trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn A mà không xem xét hành vi vi phạm của ông Mai Đình H là thiếu sót; về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo A phải bồi thường toàn bộ số tiền 236.940.000 đồng cho ông Mai Đình H và ông H bồi thường cho bị cáo Anh 18.700.000 đồng là không đúng bản chất (phải chịu trách nhiệm chung) và chưa chính xác về mức độ lỗi (ông H có lỗi nhiều hơn). Tuy nhiên, do không có kháng cáo, kháng nghị các nội dung nói trên và theo hướng có lợi cho đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm không hủy án sơ thẩm nhưng đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm rút kinh nghiệm sâu sắc.

2.2 Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khỏe và nhận thức để biết rằng phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ buộc mọi người khi tham gia phải tuyệt đối chấp hành. Tuy nhiên, do chủ quan, thiếu quan sát, không tuân thủ đúng Luật giao thông đường bộ nên bị cáo đã để hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn A 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã nộp bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mới về hoàn cảnh gia đình của bị cáo; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Mai Đình H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là lao động chính trong gia đình, nuôi 02 con nhỏ, bị cáo là người có lỗi ít hơn so với ông Mai Đình H, đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập của bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với hình phạt bổ sung: do không áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo lao động, kiếm tiền nuôi sống gia đình.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A; sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

    Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn A 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án.

    Khấu trừ thu nhập bị cáo Nguyễn Văn A 1.000.000 đồng/tháng (một triệu đồng trên một tháng) trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung quỹ Nhà nước. Giao bị cáo Nguyễn Văn A cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Nguyễn Văn A có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bị cáo Nguyễn Văn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/6/2024).

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh BR - VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR – VT;
  • - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
  • - TAND thị xã Phú Mỹ;
  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - Chi cục THA dân sự thị xã Phú Mỹ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger