Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 30 - 10 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Ngọc Ngư;
  2. Ông: Nông Văn Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Hồng Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lương Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 16/8/1980.

Nơi thường trú: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12;

Họ và tên cha: Lương Ngọc M (SN 1955); Họ và tên mẹ: Mai Thị Đ (SN 1952); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Đặng Thị T (SN 1983). Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • + Ngày 12/12/1998, bị Công an huyện Đ xử phạt 500.000 đồng về hành vi Tự ý đào bới hoặc làm bất cứ việc gì khác gây hư hại đến đê, đập, kè cống, hầm đường sắt hoặc các công trình công cộng khác.
  • + Ngày 26/4/1999, bị Toà án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. (Có mặt tại phiên tòa)

  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị T1, sinh năm 1961; Nơi ĐKHKTT: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
  • - Người chứng kiến: Ông Trịnh Văn Q, sinh năm 1962; Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút ngày 27/6/2024, tại khu vực xóm T 3, xã V, P, Tổ công tác Công an xã V làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn, phát hiện, bắt quả tang Lương Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của N 03 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh, trong đó: 01 túi nilon chứa một mảnh viên nén màu hồng và 02 túi nilon đều chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào bì ký hiệu A. N khai là ma tuý, loại Methamphetamine và H, mua về sử dụng cho bản thân. Tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Sirius, màu đen bạc, đã cũ, qua sử dụng, BKS 20R1-2529. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển toàn bộ hồ sơ cùng Lương Văn N đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn N tại xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.

Cùng ngày, tại Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong bì ký hiệu A, cân xác định khối lượng:

  • Mảnh viên nén màu hồng là 0,047 gam, niêm phong vào bì ký hiệu A1 gửi giám định chất ma tuý;
  • Số chất bột màu trắng là 0,235 gam, niêm phong vào bì ký hiệu A3 gửi giám định chất ma tuý.

Kết luận giám định số 796/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Mảnh viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là: 0,047 gam.
  • Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng gửi giám định là: 0,235 gam.

Quá trình điều tra, N khai nhận: Bản thân là người nghiện ma tuý. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, N mượn xe mô tô BKS 20R1-2529 của chị Mai Thị T1 (SN 1961; HKTT: xóm C, xã P, huyện Đ; là hàng xóm nhà N), rồi một mình điều khiển xe từ nhà đi đến khu vực đường T - Chợ M, tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 27 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 03 túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine và H, với giá 200.000 đồng. Mua xong, N cầm số ma túy trên trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến xóm T, xã V thì bị Tổ công tác Công an xã V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Đối với 01 xe mô tô BKS 20R1-2529, tạm giữ của N, quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu là chị Mai Thị T1. Việc N sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý, chị T1 không biết. Ngày 20/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả lại xe mô tô cho chị T1 quản lý và sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lương Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai nhận của bị can là phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Do có hành vi trên tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSP ngày 01/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lương Văn N, từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm cho mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 27/6/2024, tại xóm T, xã V, huyện P, Lương Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,047 gam ma tuý loại Methamphetamine và 0,235 gam ma tuý loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an xã V, huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định số ma túy trên mua của 01 người đàn ông không quen biết khoảng 27 tuổi, với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSP ngày 01/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)...

i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng ... của các chất đó tương đương với khối lượng ... chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này...”

[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách về quản lý ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Việc truy tố và xét xử bị cáo là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

  • - Về nhân thân: Tiền án,Tiền sự: Chưa.
  • Nhân thân: Ngày 12/12/1998, bị Công an huyện Đ xử phạt 500.000 đồng về hành vi Tự ý đào bới hoặc làm bất cứ việc gì khác gây hư hại đến đê, đập, kè cống, hầm đường sắt hoặc các công trình công cộng khác; Ngày 26/4/1999, bị Toà án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN. Đã chấp hành xong.
  • - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo là người có nhân thân sấu, nghiện ma túy, phạm tội với lỗi cố ý, không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy hiện đang bị tạm giam, không có tài sản thu nhập riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là ma túy và vỏ bao giấy gói.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Trong vụ án này còn có người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở xác minh làm rõ.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn N - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Mẫu A1 đã sử dụng hết, hoàn lại vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ túi ni lông; 01 bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài ghi: Bên trong có 0,211 gam mẫu A3 và vỏ bao gói mẫu.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 06/2024 ngày 22/10/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện P).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện P;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Công an huyện P;
  • - Bị cáo; NLQ
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 27/6/2024, tại xóm T, xã V, huyện P, Lương Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,047 gam ma tuý loại Methamphetamine và 0,235 gam ma tuý loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an xã V, huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định số ma túy trên mua của 01 người đàn ông không quen biết khoảng 27 tuổi, với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger