|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
|
|
Bản án số: 72/2024/HS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Kiều Thị Thắng
Bà Hoàng Thị Hanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 17/4/1982; nơi sinh: Xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1957; vợ là Trần Thị X, sinh năm 1982 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 6 năm 2024 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người làm chứng: Anh Đinh Khắc X1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Nơi cư trú: TDP Giữa, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người chứng kiến: Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Nơi cư trú: TDP Giữa, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trọng Đ là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, Nguyễn Trọng Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19L2- 2860, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen đỏ, đi từ nhà ở thôn Y, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc thuộc phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để uống thuốc Methadone. Khi đến khu vực chợ Đ1, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Đ gặp một người bạn nghiện chất ma tuý tên là B (Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của B, chỉ biết B ở xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc). Sau đó, B đã rủ Đ sử dụng trái phép chất ma túy và nói với Đ là hiện nay L cũng đang bán ma túy (L cũng là một người bạn nghiện của Đ và B, Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của L, chỉ biết ở huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc). Đ đồng ý và điều khiển xe mô tô đi theo phía sau xe mô tô của B đến phòng trọ của L ở thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để lấy ma túy. Khi đến phòng trọ của L, Đ thấy L đưa cho B 01 vỏ bao thuốc lá “SAI GON” màu xanh. B cầm vỏ bao thuốc lá rồi đưa lại cho Đ cầm mang về nhà sử dụng. Đ mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 gói nhỏ ma túy được gói bên ngoài bằng túi nilon màu xanh. Đ cất vỏ bao thuốc vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà để sử dụng. Khi đi được khoảng 100m thì Đ bị lực lượng Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Đ đang mặc 01 gói nhỏ nilon màu xanh, bên trong chứa 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy vở học sinh có đường kẻ, trong chứa chất cục bột màu trắng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1, Đ khai là ma túy (Heroine) và tàng trữ để sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá “SAI GON” màu xanh được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A2; 01 điện thoại Iphone màu bạc, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0982.460.xxx, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 19L2- 2860, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen đỏ, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 1689/KLGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,1309g (không phẩy một ba không chín gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (H).
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án; người làm chứng anh Đinh Khắc X1 và người chứng kiến ông Trần Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSTD ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 6 năm 2024; về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm A1 = 0,0658gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá “SAI GON” màu xanh; trả lại cho Nguyễn Trọng Đ 01 điện thoại Iphone màu bạc, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0982.460.xxx nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại cho ông Nguyễn Văn C 01 xe mô tô biển kiểm soát 19L2- 2860, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen đỏ.
Bị cáo Nguyễn Trọng Đ không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trọng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Trọng Đ tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/6/2024, sau khi có được ma túy từ hai người bạn nghiện tên là B và L, Nguyễn Trọng Đ bị lực lượng Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt quả tang tại đoạn đường thuộc tổ dân phố G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc về hành vi tàng trữ trái phép 0,1309g ma túy (Heroine) để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, từ tội phạm về ma tuý sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[5]. Đối với người nam giới tên là B rủ bị cáo Đ sử dụng ma túy và đưa gói ma túy cho Đ: Đ khai nhận không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của B, chỉ biết B là người nghiện ma túy Heroine, cùng uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và sử dụng số điện thoại 0353.167.xxx. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số điện thoại trên, xác định người đăng ký số thuê bao điện thoại là bà Đặng Thị T, sinh năm 1957, trú tại phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình điều tra xác định, hiện nay bà T đã không còn sử dụng số thuê bao này nữa vì bị thất lạc. Bà T không quen biết và cũng không có mối quan hệ nào với người tên B ở xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh về đối tượng B tại Công an xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả không có người nào tên B có đặc điểm như Đ khai báo. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[6]. Đối với người nam giới tên là L bán ma túy cho B: Đ khai nhận không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của L, chỉ biết L là người nghiện ma túy Heroine, cùng uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đ chỉ dẫn lại vị trí phòng trọ của L nhưng Đ khai nhận không nhớ. Quá trình điều tra xác định, tại khu vực Đ bị bắt quả tang cách phòng trọ của L khoảng 100m có duy nhất một nhà trọ do bà Đào Thị S, sinh năm 1960, trú tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra tạm trú tại nhà trọ của bà S nhưng không có ai tên là L và bà S cũng xác định từ trước đến nay không có ai tên L thuê nhà trọ của bà. Cơ quan điều tra tiến hành rà soát hệ thống camera tại nhà trọ và xung quanh khu vực nhà trọ của bà S nhưng không phát hiện hệ thống camera giám sát nào. Ngày 18/7/2024, Cơ quan điều tra yêu cầu Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc rà soát, cung cấp thông tin về đối tượng tên là L. Tại Công văn trả lời số 932/KSBT-PKĐK ngày 24/7/2024 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp có 01 người bệnh tên là Phạm Duy L1, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố P, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình xác minh tại Công an thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xác định đối tượng tên Phạm Duy L1, sinh năm 1985 có hình ảnh kèm theo. Ngày 13/8/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Nguyễn Trọng Đ nhận dạng người tên L1 ở huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc qua bản ảnh nhận dạng, trong đó có ảnh của đối tượng Phạm Duy L1 mà Cơ quan điều tra thu thập được. Kết quả Nguyễn Trọng Đ xác định không có ảnh nào là của đối tượng L1 bán ma túy như Đ đã khai báo. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành xác minh đối tượng tên là L1 tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không xác định được đối tượng nào có đặc điểm như Đ khai báo nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 = 0,0658gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá có ghi chữ “SAI GON”, màu xanh, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 điện thoại Iphone màu bạc, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0982.460.xxx là tài sản hợp pháp của Nguyễn Trọng Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 19L2- 2860, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen đỏ, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên là chị Vũ Thị H, sinh năm 1983, trú tại số nhà 213, đường T, tổ 40, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Chị H đã bán chiếc xe mô tô này cho một người nam giới ở xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cách đây khoảng 10 năm, chị H không nhớ rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Sau đó, chiếc xe mô tô trên được ông Nguyễn Văn C mua của một người ở xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc với giá khoảng 2.800.000đồng vào năm 2019. Ông C không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đã bán xe cho mình. Ngày 08/6/2024, Nguyễn Trọng Đ mượn xe mô tô trên của ông C để đi uống Methadone ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông C không biết việc Đ sử dụng xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô cho ông C.
[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Trọng Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2024).
-
Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 = 0,0658gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì thư Mẫu trả vụ số 1584/2024.
Tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá có ghi chữ “SAI GON”, màu xanh được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A2.
Trả lại cho Nguyễn Trọng Đ 01 điện thoại Iphone màu bạc, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0982.460.xxx, IMEI: 353329078713985, đã cũ qua sử dụng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn C 01 xe mô tô biển kiểm soát 19L2- 2860, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen đỏ, số khung RLSBE4DJ070104917, số máy E455-104917, đã qua sử dụng.
(đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
