Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thủy và bà Trần Thị Ngọc Quyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 240/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Lan A (tên gọi khác: S), sinh ngày 30 tháng 6 năm 2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Số E đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn An T (chết) và bà Võ Thị T1; Chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024, tạm giam từ ngày 17/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H cho đến nay; có mặt.

Người chứng kiến: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 2004; địa chỉ: P nhà H khu chung cư P, phường P, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lan A như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/05/2024, Nguyễn Thị Lan A một mình bắt xe ôm đến đường T, phường Đ, thành phố H gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch, địa chỉ), Lan A hỏi mua 06 (sáu) viên ma túy hồng phiến với giá tiền là 200.000 đồng với mục đích sử dụng thì người này đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy, Lan A cất giấu ma túy vào trong túi quần phía bên trái đang mặc trên người rồi bắt xe ôm về lại dãy nhà H của chung cư P, phường P, thành phố H. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thị Lan A gặp Đoàn Văn H (sinh năm 2004, nơi thường trú tại phòng 203 dãy nhà H của chung cư P, phường P, thành phố H) và đứng nói chuyện tại chân cầu thang chung cư P, phường P, thành phố H thì bị lực lượng Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói giấy màu bạc chứa 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng có chứa 06 viên nén màu đỏ được cất giấu trong túi quần bên trái của Nguyễn Thị Lan A.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thị Lan A, có kết quả âm tính với chất ma túy.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy màu bạc có chứa 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng chứa 06 (sáu) viên nén màu đỏ.

* Tại bản kết luận giám định số 317/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 06 (sáu) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gưởi giám định (nêu tại mục 1, phần II) có tổng khối lượng là 0,5839g (không phẩy năm tám ba chín gam), là ma túy loại Methamphetamine.

Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đang tiếp tục tạm giữ gồm:

+ 0,3839 (không phẩy ba tám ba chín gam) mẫu bột được nghiền từ 06 (sáu) viên nến đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định (nêu tại mục 1, phần II);

+ Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tất cả được niêm phong theo quy định.

* Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy hoàn lại sau khi đã giám định (cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định) hiện đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật. Toàn bộ vật chứng này, hiện đang được giữ tại kho Vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

Tại bản cáo trạng số 266/CT-VKS-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/5/2024. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị Lan A thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng truy tố; không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/5/2024, tại khu vực chân cầu thang dãy nhà H của khu chung cư P, phường P, thành phố H, bị cáo Nguyễn Thị Lan A đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,5839g (không phẩy năm tám ba chín gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố H phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị Lan A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan A là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản thân nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy trái phép nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý hoàn lại sau khi đã giám định (cùng các vật liệu để báo gói, niêm phong khi gửi giám định); đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị Lan A (tên gọi khác: Si) 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau khi đã giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định (gồm 01 gói ma túy sau giám định là 0,3839 (không phẩy ba tám ba chín gam) mẫu bột được nghiền từ 06 (sáu) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định đã được niêm phong, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T.T.Huế;
  • - VKSND tỉnh T.T.Huế;
  • - Công an tỉnh T.T.Huế (Phòng PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSNDTpHuế;
  • - CQCSĐTCông an TpHuế;
  • - CQTHAHS Công an TpHuế;
  • - Nhà tạm giữ Công an TpHuế;
  • - Chi cục THADS TpHuế;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Dán án; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Vinh Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 272/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lan A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger